Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước trong giảng dạy môn Lý luận Nhà nước và pháp luật.

Tác giả : Th.s. Nguyễn Khắc Thắng - TP. KH-TT-TL
File đính kèm: Không có

Quyền lực Nhà nước và vấn đề tổ chức quyền lực Nhà nước là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về nhà nước và pháp luật. V.I. Lênin đã khẳng định: “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền Nhà nước”(1). 
Trên thế giới, từ xưa đến nay, vấn đề quyền lực Nhà nước và việc tổ chức quyền lực Nhà nước vẫn luôn là đề tài muôn thuở của các nhà tư tưởng và các cuộc tranh cãi chính trị. Loài người đã trải qua nhiều kiểu và nhiều hình thức nhà nước khác nhau, nhưng việc tìm ra một mô hình tổ chức quyền lực Nhà nước thực sự hợp lý và tiến bộ thì vẫn là một câu hỏi lớn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng của mình đã tiếp cận nhiều trường phái lý luận khác nhau về vấn đề Nhà nước và quyền lực Nhà nước. Tuy luôn đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề Nhà nước và pháp luật, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận của một số nhà tư tưởng lớn khác như Monteskiơ, Russeau, Tôn Trung Sơn…vào thực tiễn xây dựng Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. 
Việc nắm vững và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Nhà nước trong nghiên cứu và giảng dạy môn Lý luận Nhà nước và pháp luật ở nước ta hiện nay là hết sức cần thiết. Nó giúp chúng ta lý giải rõ hơn thực tiễn xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay.
Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin trình bày 2 nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tổ chức quyền lực Nhà nước mà thiết nghĩ chúng ta cần quán triệt và vận dụng trong việc giảng dạy môn Lý luận Nhà nước và pháp luật.
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC THEO NGUYÊN TẮC “TẤT CẢ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN”.
Xuyên suốt trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm coi trọng nhân dân, “thân dân”, “vì dân”. Người từng khẳng định rõ ràng rằng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân” “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân…"(2) .
Phê phán các cuộc cách mạng tư sản là “cách mạng không đến nơi”, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh viết: "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới hạnh phúc" (3)
Quan điểm quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ cho lợi ích của nhân dân là cốt lõi và xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước. Người thường dùng khái niệm "ủy thác" để nói đến việc nhân dân trao một phần quyền lực của mình cho Nhà nước. Quyền lực của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, từ Chủ tịch nước đến cán bộ xã đều do nhân dân "ủy thác" cho. Khi hết một nhiệm kỳ, Chính phủ sẽ phải trao lại quyền cho nhân dân và nhân dân sẽ trao quyền ấy cho một Chính phủ ở nhiệm kỳ mới do dân "tuyển cử". Các khái niệm "ủy thác", "giao quyền” ấy là sự khẳng định quyền lực thuộc về nhân dân.
Trong Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ban hành năm 1946 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ: "Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(4)
Để đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, điều cần thiết hàng đầu là cơ quan quyền lực của Nhà nước phải được nhân dân bầu ra một cách tiến bộ và dân chủ. Chính vì vậy, một ngày sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi đề nghị tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”(5). Người khẳng định thêm: “Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hóa, không phân biệt giống nòi đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý để nhân dân lao động được thực hiện quyền thống trị của mình”(6).
Chế độ phổ thông đầu phiếu là một chế độ bầu cử dân chủ nhưng không phải bất kỳ một Nhà nước non trẻ nào cũng mạnh dạn áp dụng (đặc biệt là trong điều kiện khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc” như Nhà nước ta sau cách mạng Tháng Tám). Tuy nhiên, tin tưởng vào ý thức giác ngộ cách mạng và sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Về mặt chính trị thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức mạnh như một viên đạn”(7).
Trong cuộc Tổng tuyển cử 1946, tại Hà Nội các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị trong đó có đoạn: “Yêu cầu cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”(8)  nhưng Hồ Chí Minh nhất quyết từ chối mà xin được tham gia bầu cử như một ứng cử viên bình thường. Về sự kiện này, có nhà báo phỏng vấn: “Sao cụ không ra làm Chủ tịch Việt Nam, cụ còn phải ra ứng cử lôi thôi”. Hồ Chí Minh trả lời: “Vì tôi không muốn làm Lu-i thập tứ”.(9)
Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân cũng có nghĩa bộ máy Nhà nước phải phục tùng ý chí của nhân dân, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Là đầy tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”(10)  “từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa” (11). Thậm chí Người còn nói: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”(12) và “nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(13).
Tuy vậy, Hồ Chí Minh cũng luôn quán triệt rằng: trong chế độ Nhà nước dân chủ thì nhân dân có quyền tự do, quyền làm chủ, nhưng không có nghĩa là “tự do vô chính phủ”, mà đòi hỏi Nhà nước và nhân dân đều phải có trách nhiệm đối với nhau. Hồ Chí Minh viết: “Nếu không có dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ và dân phải đoàn kết thành một khối”(14)  “…dân phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi” (15).
Một điểm sáng tạo cần chú ý trong chính thể Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân ở Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo xây dựng đó là Người chủ trương không sao chép, rập khuôn máy móc bất kỳ một mô hình Nhà nước cụ thể nào mà luôn có quan điểm kế thừa có chọn lọc để xây dựng phát triển Nhà nước gắn liền với các điều kiện lịch sử cụ thể. Khi áp dụng hình thức dân chủ đại diện, Hồ Chí Minh cũng đã không hoàn toàn theo chỉ dẫn của C.Mác cũng như không theo Lê Nin về mô hình dân chủ Xô Viết. Người đã sớm nhận ra rằng, nền dân chủ đại diện theo mô hình của nước Nga Xô-viết lúc đó xác định đơn vị bầu cử là các tổ chức sản xuất, công tác, các tổ chức chính trị xã hội...để tạo ra các Xô-viết, điều đó không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Người cũng đã tiếp thu những giá trị cơ bản của nền dân chủ Xô-viết, chắt lọc những tinh túy trong các nền dân chủ khác trên thế giới, từ đó chủ trương tổ chức bầu cử ở Việt Nam theo đơn vị hành chính dân cư nhằm lựa chọn các đại biểu vừa theo đơn vị hành chính dân cư, vừa theo đại diện các tổ chức, ngành giới, tầng lớp nhân dân. Người nói: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên xô có phong tục, tập quán khác, có lịch sử, địa lý khác… Ta có thể đi con đường khác để tiến lên CNXH”(16). Một điểm đáng chú ý là cơ cấu tổ chức quyền lực Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà theo Hiến pháp 1946 có một số điểm tương đồng với Chính thể cộng hoà Tổng thống của một số nhà nước tư sản đặc biệt là nước Mỹ. Điều này cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những yếu tố hợp lý của cả những chế độ chính trị đối lập khi xét thấy nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Dĩ nhiên, để đảm bảo nguyên tắc “quyền lực Nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân” Người không thừa nhận và áp dụng nguyên tắc phân chia quyền lực (còn gọi là "tam quyền phân lập") trong bộ máy Nhà nước tư sản.
Khái niệm quyền lực nhân dân và dân chủ còn được Hồ Chí Minh làm rõ trong quan hệ của nó với khái niệm chuyên chính. Người viết: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại, nếu hòm không có khóa, nhà không có cửa thì sẽ mất cắp hết. Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa. Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ"(17)  
Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh, để đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì nhân dân phải được trực tiếp tham gia đầy đủ, rộng rãi vào các công việc của chính quyền Nhà nước. Trong Điều 32 - Hiến pháp 1946 quy định “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết”. Thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp quan trọng đã được Hồ Chí Minh quan tâm và đề ra rất sớm ở nước ta. Người viết: "... chỉ có chế độ của chúng ta mới thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bảo đảm mọi quyền lợi của nhân dân, mở rộng dân chủ để nhân dân thật sự tham gia quản lý Nhà nước. Vì vậy cho nên nhân dân ta đưa hết khả năng làm tròn nhiệm vụ người chủ nước nhà để xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta mạnh, dân ta giàu"(18).
Như vậy, có thể thấy trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu những tư tưởng và mô hình tiến bộ của các chế độ nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và đặt nền móng cho một chế độ Nhà nước dân chủ thực sự đảm bảo nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Những tư tưởng của Người về địa vị làm chủ của nhân dân, về chế độ bầu cử “Phổ thông đầu phiếu”, về mô hình nhà nước cộng hòa dân chủ, về quyền và nghĩa vụ hai chiều trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân…cho đến nay vẫn nguyên giá trị và là phương hướng, nguyên tắc chỉ đạo quan trọng để Nhà nước ta tiếp tục hoàn thiện.
II. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại với các nhà tư tưởng lớn như: Xô-crát, Pla-tôn, Ari-xtốt, Xi-xe-rôn, Trang Tử, Hàn Phi Tử. Tuy nhiên, phải đến thời cận đại, nó mới thực sự phát triển rực rỡ với Lôc-cơ, Rút-xô, Mông-téc-xki-ơ, Hê-ghen…Có thể khẳng định, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người và đã thực sự trở thành một giá trị phổ biến của nhân loại được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Tại Hội nghị quốc tế về Nhà nước pháp quyền được tổ chức tại Bê-nanh (năm 1992), các nhà khoa học đã thống nhất đưa ra một hệ tiêu chí về Nhà nước pháp quyền bao gồm: thừa nhận tính tối cao của pháp luật; xác định quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong bộ máy quyền lực Nhà nước; tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của con người; tôn trọng luật pháp quốc tế v.v..  Như vậy, có thể hiểu Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức quyền lực Nhà nước trong đó việc thực thi quyền lực Nhà nước phải đặt dưới sự kiểm soát và phán xét của Hiến pháp và pháp luật. Hay nói cách khác, trong Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp và pháp luật phải giữ vị trí tối cao và là tiêu chuẩn chủ đạo chi phối đời sống Nhà nước và xã hội.
Ngay từ những năm đầu đi tìm đường cứu nước cũng như trong suốt quá trình hoạt động và nghiên cứu sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm tiếp nhận tư tưởng về xây dựng một Nhà nước pháp quyền. Năm 1919, tại Hội nghị Vécxây được tổ chức sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã gửi bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị. Bản yêu sách gồm 8 điều, trong đó có 2 điều liên quan trực tiếp tới vấn đề pháp quyền. Đó là:
Điều 2: Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu.
Điều 7: Thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật
Sau này Người đã chuyển bản yêu sách trên thành “Việt Nam yêu cầu ca” để phổ biến rộng rãi cho mọi người dễ nhớ, trong đó có 2 câu nổi tiếng:
“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (19).
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, để xác lập nền tảng pháp lý của một Nhà nước kiểu mới theo hướng pháp quyền, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo để soạn thảo Hiến pháp dân chủ đầu tiên ở Việt nam - Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1946 đã bảo đảm về mặt pháp lý các quyền dân chủ cơ bản của nhân dân, đồng thời  là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương gấp rút cho soạn thảo và ban hành một bản Hiến pháp trong điều kiện “nước sôi, lửa bỏng” như những năm 1946 cho thấy tư tưởng lập Hiến luôn được Người quán triệt trong tiến trình xây dựng Nhà nước. Theo Hồ Chí Minh, Hiến pháp là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành một Nhà nước pháp quyền.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là Nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực thực tế. Pháp luật của nước ta là pháp luật dân chủ, do đó dân chủ phải đi đôi với pháp luật, pháp luật phải đi đôi với giáo dục đạo đức. Pháp luật phải nghiêm minh, phải quy định rõ quyền và nghĩa vụ công dân, thể chế hoá quyền dân chủ của người dân, pháp luật phải bảo đảm quyền công dân, quyền con người được tôn trọng trong thực tế. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất chăm lo hoàn thiện Hiến  pháp và pháp luật, đồng thời chăm lo đưa pháp luật vào đời sống, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật; thực hiện thưởng phạt nghiêm minh: “Không vì công mà quên lỗi, vì lỗi mà quên công”. Người nhắc nhở cán bộ phải lo “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”(20).
Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình quản lý đất nước, Nhà nước ta ngày càng thể hiện rõ những phẩm chất và đặc trưng của một nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, luôn là một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, pháp luật, vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Hiến pháp và hệ thống pháp luật của chúng ta ngày càng được bổ sung và hoàn thiện không chỉ phù hợp với những đặc thù của quá trình phát triển đất nước mà còn hướng tới sự phù hợp với hệ thống công ước và luật pháp quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng và trong hệ tư tưởng của mình luôn có quan điểm lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn chân lý. Vì vậy, Người luôn tiếp thu có chọn lọc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam. Những phương hướng chỉ đạo cơ bản của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay như xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập hết sức sâu sắc trong nhiều bài viết và nói lúc sinh thời. Việc quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy các vấn đề Lý luận Nhà nước và pháp luật hiện nay là rất cần thiết, giúp chúng ta lý giải rõ hơn những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam.    
Chú thích:
1. V.I.Lênin, Tuyển tập, Quyển II, phần I, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr13.
2. Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Tập 7, Nxb Sự thật, Hà nội,1987, tr299.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr270
4. Điều 1, Hiến pháp năm 1946.
5. HCM, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr8
6. HCM, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr218
7. HCM, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr145
8. Lịch sử quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb CTQG, Hà nội, 1994, tr41.
9. HCM, Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr125.
10.  HCM, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr60
11.  HCM, Toàn tập, Tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr365
12.  HCM, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr60
13.  HCM, Toàn tập, Tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2000, tr91
14.  HCM, Toàn tập, Tập 4,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr56
15.  HCM,  Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr60
16.  HCM Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr227
17.  HCM Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr279-280
18.  HCM Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr593
19.  HCM Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr438
20.  HCM Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr223.

 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn