Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Quán triệt Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy môn Kinh tế chính trị ở Nghệ An hiện nay

Tác giả : Th.s Nguyễn Văn Thành - P. Trưởng khoa Kinh tế
File đính kèm: Không có

Trong chương trình trung cấp lý luận chính trị, bộ môn kinh tế chính trị có hai phần học cơ bản. Phần thứ nhất là: Một số vấn đề kinh tế chính trị về chủ nghĩa tư bản và phần thứ hai là: Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ở hai phần học này, có một số bài giảng cần thiết phải đưa những nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh vào để phân tích, giảng giải nhằm làm cho bài học trở nên sinh động, dễ hiểu, gần gũi với nhận thức của học viên. Hơn nữa, thông qua việc nắm vững và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy kinh tế chính trị, học viên có điều kiện tiếp cận sâu hơn tư tưởng của Người về lĩnh vực kinh tế. Từ đó, chúng ta có sự kết hợp giữa giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin  và giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong bộ môn kinh tế chính trị. Việc nhận thức tư tưởng của Người qua các bài giảng, học viên càng thấy được sự vĩ đại trong tư tưởng kinh tế của Người, thấy được việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng của Người trong thực tiễn hiện nay là công việc hết sức cần thiết trong quá trình xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
 Trước hết, trong phần học: Một số vấn đề kinh tế chính trị về chủ nghĩa tư bản có bài giảng: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại”. Trong bài học này, giảng viên cần làm rõ bản chất kinh tế của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều tư liệu cụ thể ở các nước thuộc địa và phụ thuộc nhằm chứng minh rõ hơn bản chất bóc lột và ăn bám của chủ nghĩa đế quốc. Người cho rằng một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản chính là chủ nghĩa đế quốc. Sở dĩ Hồ Chí Minh nói như vậy là vì muốn tồn tại và phát triển, chủ nghĩa tư bản không chỉ bóc lột nhân dân lao động ở chính quốc. Để có thêm lợi nhuận và với sức mạnh tích lũy được, chủ nghĩa  tư bản đã đi xâm lược các quốc gia khác để cướp bóc tài nguyên và sức lao động của các nước này, biến các nước này thành các nước thuộc địa và phụ thuộc, khi đó chúng trở thành chủ nghĩa đế quốc. Với hành động xâm lược, cướp bóc các nước thuộc địa và phụ thuộc, chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ đầy đủ bản chất của chúng. Người rút ra kết luận “Chủ nghĩa đế quốc là con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”(1). Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc xuất phát từ bản chất tư bản của chúng.  
Toàn bộ những tội ác của chủ nghĩa đế quốc mà Hồ Chí Minh nêu ra trong các tác phẩm của Người đã đủ cho chúng ta kết luận bản chất tham lam, độc ác của chúng, những tội ác ấy chứng tỏ rằng chủ nghĩa tư bản đã trở nên phản động, cần được xóa bỏ.
 Hồ Chí Minh đã chỉ ra những hậu quả mà chủ nghĩa tư bản gây ra trong quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa:
 Thứ nhất, quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc ngày càng gay gắt, là miếng đất tốt cho phong trào cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc. Tội ác tàn bạo của chúng gây ra đối với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc khiến cho nhân dân các nước này ngày càng căm thù chủ nghĩa tư bản. Hồ Chí Minh viết “Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ…Đằng sau sự phục tùng, tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến”(2).
 Thứ hai, quá trình xâm lược và khai thác thuộc địa làm cho mâu thuẫn giữa các nước đế quốc tăng lên. Sự tranh giành thuộc địa của các nước đế quốc dẫn đến các cuộc chiến tranh là biểu hiện rõ rệt nhất mâu thuẫn giữa các nước này.
 Chiến tranh đế quốc làm cho chủ nghĩa tư bản suy yếu thúc đẩy nhân dân các nước thuộc địa nổi dậy đấu tranh giành độc lập vì:
 + Chiến tranh đế quốc có nghĩa là bọn đế quốc này dùng vũ lực tiêu diệt bọn đế quốc kia, kết quả là chúng bị suy yếu đi.
 + Chiến tranh đế quốc chủ nghĩa là bọn đế quốc đẩy hàng vạn con người lao động vào binh lửa, chết chóc khiến cho người người đều căm thù.
 + Chiến tranh đế quốc là tấm gương thần soi rõ bộ mặt của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc đã phản động đến cực điểm khiến cả nhân loại đều mong muốn đánh đổ.
 Những mâu thuẫn trên hình thành do sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho chủ nghĩa tư bản ngày càng suy yếu, là miếng đất tốt để cách mạng phát triển. Hồ Chí Minh viết “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi, chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(3).
 Trong giai đoạn hiện nay, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy những vấn đề về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần lưu ý thêm các vấn đề sau:
 Một là, bản chất xâm lược, bóc lột của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc sẽ không bao giờ thay đổi mặc dù cục diện thế giới ngày nay đã không còn như trước đây.
 Hai là, trong thời kỳ hội nhập, thực hiện chiến lược kinh tế mở cửa, chúng ta phải luôn tỉnh táo, cảnh giác sao cho mọi chính sách và giải pháp kinh tế đảm bảo được cả lợi ích kinh tế và chính trị.
 Sang phần học thứ hai của bộ môn kinh tế chính trị là: Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có một số bài học cần phải quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy. Cụ thể là bài: “Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, bài “Sở hữu về tư liệu sản xuất và các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ”, bài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, bài “Phân phối thu nhập quốc dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam” và bài “Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam”.
 Trong bài “Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, chúng ta cần làm rõ quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
 Trong quá trình cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng một xã hội mới, một nền kinh tế mới, Hồ Chí Minh đã trình bày rõ tư tưởng của Người về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nói về mục đích xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ là để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Người nói “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà nhân dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(4). Theo Người, nâng cao đời sống của nhân dân thì phải bao gồm cả nâng cao đời sống vật chất cùng với đời sống tinh thần. Nói về tính chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nói nhiều về tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của thời kỳ này. Sở dĩ Người nói như vậy là vì các lý do sau đây:
 Một là, tính chất to lớn, vĩ đại của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người nói: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người ở nước ta, nhằm đưa lại đời sống no ấm cho toàn dân ta. Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là một cuộc cách mạng gay go, phức tạp và khó khăn nhất”(5)
 Hai là, điểm xuất phát và tính chất quá độ đặc biệt khi đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người viết: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(6)
 Ba là, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta còn bị nhiều lực lượng cản trở. Một mặt, chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc không muốn nhân dân ta xây dựng một xã hội mới, luôn tìm cách phá hoại. Mặt khác, những thói quen truyền thống lạc hậu, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản đang tồn tại trong cán bộ và nhân dân ta.
 Trong bài “Sở hữu về tư liệu sản xuất và các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ”, tư tưởng của Hồ Chí Minh cần được vận dụng để làm sáng tỏ lý luận về sở hữu và các thành phần kinh tế của Đảng ta hiện nay. Bởi lẽ, Hồ Chí Minh đã sớm nói về sự tồn tại những loại hình sở hữu và do đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
 Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” Hồ Chí Minh đã viết “Trong chế độ dân chủ mới, có 5 loại kinh tế khác nhau:
 A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân).
B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội).
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội).
D- Tư bản tư nhân.
E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh).
 Trong 5 loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế sẽ phát triển theo hướng CNXH chứ không theo hướng CNTB”(7)
 Người nêu rõ các hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế ở nước ta và chính sách đối với các loại hình đó. Người viết “Trong điều kiện nước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất như sau:
- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.
- Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể” (8). Hồ Chí Minh cũng thể hiện quan điểm khách quan, rộng rãi với kinh tế tư bản tư nhân trong nước vì Người nhìn thấy tính chất, đặc điểm riêng của giai cấp tư sản Việt Nam. Trong các thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh cũng đã nhấn mạnh vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã. “Chúng ta phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa”(9). Trong bài học này, chúng ta cần nhấn mạnh thêm tư tưởng của Người về Hợp tác xã, chỉ rõ những luận điểm hợp lý trong việc xây dựng hợp tác xã giai đoạn hiện nay.
 Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên giá trị và ý nghĩa thực tiễn. Trước đây, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến cho tư tưởng nóng vội chi phối, chúng ta đã phần nào xa rời tư tưởng của Người trong một thời kỳ khá dài, gây nên những tổn thất nhất định.
 Trong bài “Phân phối thu nhập quốc dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” cần phải vận dụng tư tưởng của Người về vấn đề phân phối để là cho học viên hiểu sâu sắc hơn những nội dung cơ bản. Hồ Chí Minh đã từng đề cập nhiều về phân phối trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Người khẳng định nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải lấy phân phối theo lao động là chủ yếu, đồng thời chú ý đến phúc lợi xã hội để đảm bảo công bằng hợp lý. Nhấn mạnh việc áp dụng nguyên tắc phân phối theo lao động, Người nói “Chủ nghĩa xã hội là công bằng, hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ, chăm nom”(10). Khi nói về  phân phối, ngoài nhấn mạnh phân phối theo lao động, Người còn nhắc nhở mọi người phải có tinh thần đồng cam cộng khổ “không nên chỉ nghĩ đến mình ăn no mặc ấm mà phải nghĩ đến đồng chí, đồng bào, đồng đội mình” (11) và phải chống tư tưởng bình quân chủ nghĩa. “Phân phối phải theo mức lao động. Lao động nhiều thì được phân phối nhiều, lao động ít thì được phân phối ít. Lao động khó thì được phân phối nhiều, lao động dễ thì được phân phối ít. Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng công điểm như nhau” (12)).  Người cũng rất chú ý đến phúc lợi cho nhân dân nhưng theo Người phúc lợi phải gắn với hiệu quả sản xuất.
 Trong bài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân”, cần quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của  công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Có thể nói vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh vào bài học này đáng chú ý nhất vẫn là lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
 Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò của nông nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. Theo Hồ Chí Minh, nông nghiệp giải quyết cho người dân cái ăn, cái ăn, cái mặc, cái ở… nghĩa là giải quyết đời sống cho người dân Việt Nam vốn nghèo khổ vì sống trong một nước có nền nông nghiệp lạc hậu. Cũng theo Người, nông nghiệp còn quan trọng vì nó cung cấp lương thực, nguyên vật liệu và xuất khẩu để đổi lấy vật tư, máy móc cho sự phát triển công nghiệp. Hơn nữa,  nông nghiệp, nông thôn còn là thị trường quan trọng cho công nghiệp, do vậy “phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”.
 Người cho rằng, công nghiệp và nông nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ, tác động, hỗ trợ lẫn nhau như hai chân của nền kinh tế “công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” (13) 
Muốn phục vụ đắc lực cho sự phát triển nông nghiệp, bản thân công nghiệp cũng phải phát triển, đặc biệt là công nghiệp nhẹ. Đầu ra của nông nghiệp có nhiều sản phẩm tươi sống, rất dễ bị hư hỏng nếu không được chế biến kịp thời. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến là một bộ phận của công nghiệp nhẹ, phát triển nhanh chóng sẽ phục vụ rất đắc lực cho nông nghiệp.
  Hồ Chí Minh cho rằng, công nghiệp nặng làm cơ sở cho nền kinh tế độc lập. Do đó, xuất phát từ nhu cầu chung của nền kinh tế, xuất phát từ tiềm năng của nước ta, cần phải phát triển những ngành công nghiệp nặng để khai thác hết những tiềm năng đó, tạo nên sự phát triển đột biến cho nền kinh tế đất nước. Cần lưu ý là Hồ Chí Minh rất coi trọng công nghiệp nặng nhưng chưa khi nào Người nói ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trong các bài viết và nói của Người. Quan điểm cần quán triệt ở một nước nông nghiệp lạc hậu, vốn ít đi lên chủ nghĩa xã hội như nước ta là  phát triển công nghiệp nặng trước hết phải xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Người nói: “Công nghiệp nặng cung cấp máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu cho nông nghiệp, công nghiệp nặng cũng phải cung cấp máy móc các loại cho công nghiệp nhẹ và cho thủ công nghiệp” (14). Với quan điểm coi phục vụ nông nghiệp làm trung tâm nên những ngành công nghiệp nặng cần được phát triển trước hết là ngành cơ khí, ngành hóa chất và ngành điện.
 Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
 Một là, thực hiện công nghiệp hóa các khâu sản xuất nông nghiệp bao gồm việc thực hiện cơ khí hóa các khâu trong sản xuất, đồng thời áp dụng các thành tựu mới của cánh mạng khoa học công nghệ trong nhiều bộ phận khác của sản xuất nông nghiệp như đưa giống mới vào trồng trọt và chăn nuôi, đưa kỹ thuật mới vào chế biến nông sản.
 Hai là, phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn vì nước ta ít ruộng, do đó phải có nghề khác bổ sung để tận dụng lao động dư thừa vừa tăng thu nhập cho nông dân, hơn nữa trong nông nghiệp có nhiều tiềm năng về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, là thị trường rộng lớn cho sự phát triển của công nghiệp và thủ công nghiệp.
 Ba là, phải xây dựng kết cấu hạ tầng cho hoạt động công nghiệp ở nông thôn và cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung. Cụ thể là hệ thống thủy lợi, điện, đường, trường, trạm. Xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng này vừa giúp cho phát triển kinh tế vừa xây dựng được một nông thôn mới no ấm, văn minh.
 Theo Hồ Chí Minh, trong quá trình công nghiệp hóa phải kết hợp giữa xây dựng mới với cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có, Người nói: “Muốn cơ giới hóa nông nghiệp cũng còn mất 15, 20 năm chứ không phải làm ngay một lúc được. Cho nên phải cải tiến nông cụ hiện có, phải làm những loại máy mới giản đơn, thợ mộc cũng đóng được, nông dân cũng làm được”(15). Với một nước nghèo như Việt Nam, cách tốt nhất là tận dụng, cải tiến và đưa những thành tựu mới của khoa học công nghệ vào nâng cấp những cơ sở công nghiệp. Trong điều kiện còn khó khăn về vốn, về trình độ cán bộ và công nhân đồng thời cần phát huy trí sáng tạo, óc thông minh của người Việt Nam nên chúng ta không nhất thiết phải hiện đại hóa toàn bộ mọi ngành, mọi nơi mà có thể cơ khí hóa từng khâu, từng bộ phận hoặc cải tiến công cụ theo hướng áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật mới.  Tuy vậy, cũng cần chú ý đẩy nhanh một số ngành đi ngay vào công nghệ hiện đại theo quan điểm đi tắt đón đầu vì nước ta thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại khoa học công nghệ diễn ra rất sôi động.
 Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của khoa học công nghệ, Người nói: “Công nghệ mà xa rời toàn bộ kinh tế quốc dân, mất liên hệ với nó thì công nghệ không lãnh đạo được kinh tế của quốc dân”(16). Khi Người coi công nghệ có vai trò lãnh đạo và cải tạo nền kinh tế, coi khoa học kỹ thuật là cực kỳ quan trọng thì có nghĩa là Người đòi hỏi chúng ta phải thấy hết vai trò to lớn của lĩnh vực này, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới đang đi vào kinh tế tri thức.
 Để thực hiện chỉ dẫn của Người, khi giảng dạy nội dung này chúng ta cần bổ sung các quan điểm như cần phải lựa chọn chiến lược khoa học công nghệ chính xác, phải coi trọng trí thức, coi trọng nhân tài. Quán triệt tư tưởng của Người đối với trí thức, chúng ta cần hết sức tôn trọng đội ngũ trí thức thông qua thái độ cư xử, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện thuận lợi cho họ làm việc, công hiến tài năng.
 Trong bài giảng: “Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam”, chúng ta cần đưa những quan điểm của Hồ Chí Minh về mở cửa và hội nhập vào bài giảng để làm cho học viên thấy sự cần thiết phải chủ động hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
 Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng khuyến khích các dân tộc phải mở cửa giao lưu, quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và kịch liệt phê phán tư tưởng biệt lập giữa dân tộc này với dân tộc khác. Tư tưởng chiến lược kinh tế mở được người đề cập tập trung, đầy đủ và rõ ràng nhất trong bức thư Người gửi cho liên hợp quốc tháng 12 năm 1946. Trong bức thư đó Người viết “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
 a. Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
 b. Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
 c. Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của liên hợp quốc”(17).
 Với những quan điểm trên đây, tư duy mở cửa, hội nhập của Hồ Chí Minh phù hợp với những chính sách kinh tế đối ngoại của nước ta hiện nay. Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai phe sau chiến tranh thế giới thứ hai không cho phép Người triển khai những ý tưởng đúng đắn này. Hồ Chí Minh cũng nhiều lần nhấn mạnh rằng trong quan hệ với các nước khác, trong đó có các nước tư bản chủ nghĩa, chính sách của Việt Nam là rõ ràng miễn là “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình”(18). Dù trong hoàn cảnh nào Hồ Chí Minh cũng vẫn kiên trì quan điểm mở rộng quan hệ với các nước XHCN, các nước láng giềng và các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau. Sở dĩ Hồ Chí Minh kiên trì theo đuổi chính sách mở cửa trước hết là nhằm góp phần duy trì ổn định trong khu vực và trên thế giới để nhân dân được sống trong hoà bình, tự do. Nhưng mục tiêu cơ bản nhất của Người là thông qua đó để giao lưu, mở rộng quan hệ kinh tế, thu hút mọi nguồn lực nhằm phát triển kinh tế nâng cao đời sống của nhân dân ta. Quan điểm thu hút đầu tư nước ngoài được Hồ Chí Minh nói rõ từ rất sớm rằng: “Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”(19). Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, trong giảng dạy bài học này cũng chính là làm rõ hơn đường lối của Đảng đã nêu trong đại hội IX là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Quán triệt tư tưởng này, chúng ta phải làm cho học viên thấy rõ sự cần thiết phải chuẩn bị những điều kiện cho việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới như tạo lập và hoàn thiện môi trường kinh doanh và những điều kiện trong nước cho quá trình hội nhập, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế và của mỗi doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh, tiếp tục hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
 Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Trước đây, do điều kiện và hoàn cảnh lịch sử, nhiều nội dung trong tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh đã không được áp dụng vào thực tiễn. Ngày nay, bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta cần học tập và làm theo những chỉ dẫn quý báu của Người. Vì vậy, trong hệ thống tư tưởng kinh tế của Người, nhiều vấn đề cần được quán triệt và vận dụng vào giảng dạy kinh tế chính trị. Thông qua hoạt động này, giảng viên sẽ có điều kiện giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh theo chuyên ngành của mình, còn học viên được tiếp cận với lý luận kinh tế chính trị qua lăng kính tư tưởng Hồ Chí Minh một cách cụ thể, dễ hiểu và gần gũi với cuộc sống và nhận thức của người Việt Nam. Từ đó thôi thúc học viên học tập và vận dụng tư tưởng của Người vào thực tiễn./.
Chú thích:
(1) . Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t1, tr298
(2) . (3) Sđd, t1, tr28;8
(4) . Sđd, t4, tr152
(5) . Sđd, t9, tr156-157
(6) . Sđd, t10, tr13
(7) . Sđd, t7, tr248
(8) , (9) , (10) Sđd, t9, tr588-589; 175
(11). Sđd, t8, tr386
(12), (13) Sđd, t10, tr410;545
(14). Sđd,t11, tr352
(15). Sđd, t10, tr181-182
(16). Sđd, t2, tr499
(17). Sđd, t4, tr470
(18). Sđd, t8, tr58
(19). Sđd, t4, tr74

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn