Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy môn Triết học Mác – Lênin

Tác giả : T.s. Nguyễn Thái Sơn - Trường Đại học Vinh
File đính kèm: Không có

     Tư tưởng Hồ Chí Minh là một di sản quý báu của dân tộc ta, việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy tư tưởng của Người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Điều đó đã được các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước khẳng định. 
     Lịch sử cũng đã chứng tỏ rằng người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê nin một cách có hệ thống sâu sắc và truyền bá những tư tưởng đó vào Việt Nam chính là chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chính vì lẽ đó mà giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê nin có mối liên hệ hữu cơ đặc biệt khăng khít, gắn bó. Trên một nền tảng văn hoá, tinh thần phương Đông vững chắc, Bác Hồ kính yêu đã tiếp nhận một cách thấu đáo những tinh hoa tư tưởng của thời đại phát sinh từ phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới. Ngày nay, việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh không thể tách rời chủ nghĩa Mác - Lê nin và ngược lại. Trong bối cảnh Việt Nam, có thể khẳng định rằng việc giảng dạy các môn khoa học Mác - Lê nin phải gắn liền với tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây không những là một yêu cầu đòi hỏi có tính cấp bách mà còn mang tính chiến lược lâu dài. 
     Đại học Vinh là một trường đại học có quy mô và tầm cỡ lớn trong hệ thống các trường đại học ở Việt Nam. Gần 50 năm xây dựng phát triển và trưởng thành, trường đã góp phần đào tạo hàng vạn giáo viên và cán bộ nghiên cứu khoa học cho mọi miền của tổ quốc. Là trường đại học đầu tiên trên quê hương của Bác Hồ kính yêu, hơn bất kỳ một trường đại học nào khác, trường phải có nhiệm vụ đi đầu trong công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh. Đội ngũ cán bộ khoa GDCT coi việc thực hiện nhiệm vụ này là một vinh dự lớn lao và cũng là một trách nhiệm nặng nề. 
     Việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một đề tài hấp dẫn và đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước quan tâm trên nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên việc nghiên cứu nhằm quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình giảng dạy triết học Mác - Lê nin vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức.
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng lớn. Những tư tưởng mà người để lại hết sức có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới chúng ta không thể không vận dụng một cách sáng tạo những tư tưởng quý báu của Người. Trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, theo chúng tôi, việc vận dụng những tư tưởng của Hồ Chí Minh lại càng cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Đặc biệt, đối với quá trình giảng dạy và học tập các môn học Mác - Lê nin việc vận dụng, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh là một yêu cầu không thể thiếu. Theo chúng tôi đây là điều kiện cực kỳ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc giảng dạy và học tập các môn học này. Trong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn triết học Mác – Lênin có thể triển khai theo những hướng cơ bản như sau:
     a. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy vấn đề thế giới quan duy vật và phép biện chứng mác xít
Thế giới quan là một khái niệm phức tạp. Theo từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên thì thế giới quan là: “Quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội” (1). Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1998 thì thế giới quan được định nghĩa là: “Cách thức nhìn nhận và giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội thành hệ thống quan điểm thống nhất”. Trong cuốn từ điển triết học do M.Rodentan chủ biên thì thế giới quan là: “Hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới chung quanh mình. Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội và chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học...” (2).
     Như  vậy thế giới quan là một hệ thống các quan niệm, quan điểm của con người về thế giới, về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp những  vấn  đề  về mục  đích,  ý  nghĩa  cuộc  sống của con người. 
     Trong hệ thống đó, các quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu và có tầm quan trọng đặc biệt. Các quan điểm triết học có vai trò liên kết các hiểu biết khác của con người, các quan điểm chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, văn hoá, khoa học... thành hệ thống thống nhất. Vấn đề chủ yếu của một thế giới quan cũng là vấn đề cơ bản của triết học, đó chính là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay nói cách khác là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức. Tùy theo cách nhận định, quan niệm ý thức  hay vật chất  cái nào có trước, cái nào đóng vai trò quyết định mà hình thành hai loại thế giới quan  chủ yếu: thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật.
     Căn cứ vào những phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng thế giới quan là một khái niệm rất phức tạp, có tính trừu tượng cao. Sự hình thành thế giới quan ở mỗi một cá nhân là một quá trình lâu dài và phụ thuộc nhiều yếu tố, nhiều điều kiện khác nhau. 
     Vấn đề thế giới quan của con người có ý nghĩa sâu sắc, to lớn không những về mặt lý luận nhận thức mà còn cả trên phương diện thực tiễn. Vì bản thân thế giới quan là sự biểu hiện cách nhìn nhận bao quát của con người về vũ trụ và xã hội nên nó quyết định thái độ của con người đối với thế giới xung quanh và đóng vai trò là kim chỉ nam cho mọi hành động của con người. 
     Để xây dựng và bồi dưỡng thế giới quan cho sinh viên, chúng ta phải sử dụng nhiều phương thức và biện pháp khác nhau, với nhiều nội dung và hình thức khác nhau. Trong đó việc bồi dưỡng thế giới quan thông qua quá trình giảng dạy các môn học trong trường đại học là biện pháp cơ bản nhất. Đây là biện pháp đóng vai trò then chốt, quyết định. Tất cả các môn học, các ngành khoa học đều có ý nghĩa, tầm quan trọng lớn lao đối với quá trình xây dựng và bồi dưỡng thế giới quan cho sinh viên. Tuy nhiên, do mối quan hệ mật thiết giữa triết học và thế giới quan cho nên Triết học Mác - Lênin là môn học có vai trò, ảnh hưởng đặc biệt, quan trọng nhất.  
      Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy, xây dựng bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên cần tập trung vào mấy điểm then chốt.
     Thứ nhất, thông qua quá trình giảng dạy, cần làm nổi bật cho sinh viên thấy được rằng chính bản thân Hồ Chí Minh là người có một thế giới quan cực kỳ duy vật, biện chứng và khoa học. Trong quá trình hoạt động cách mạng phong phú và bằng những kinh nghiệm thực tiễn hết sức quý giá, Hồ Chí Minh đã tự xây dựng cho mình thế giới quan khoa học cách mạng với tính chất duy vật triệt để nhất. Thiên tài Hồ Chí Minh được thể hiện qua nhãn quan cách mạng sâu sắc của Người. Nhờ có thế giới quan đúng đắn, Người đã nắm bắt chính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc mình. Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gũi với nhân dân trên mảnh đất Nghệ Tĩnh giàu truyền thống anh dũng bất khuất, Hồ Chí Minh đã sớm mang trong mình tinh thần yêu nước nồng nàn. Ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử Bác đã thấy được con đường cứu nước của cha anh là cũ kỹ, lạc hậu và không thể đem đến thành công. Người phải đi tìm một con đường mới, đó là con đường cách mạng vô sản, con đường đến với Lê nin và chủ nghĩa Mác - Lê nin. Hồ Chí Minh đã vượt qua khoảng 30 nước ở bốn châu lục khác nhau. Nhờ đi nhiều nơi, hoạt động thực tiễn phong phú mà Hồ Chí Minh có vốn hiểu biết rất rộng rãi. Có thể nói Người là một trong những nhà hoạt động chính trị đã đi nhiều nhất, có không gian và phạm vi hoạt động rộng lớn nhất, có vốn hiểu biết thực tế phong phú nhất về các thuộc địa cũng như các quốc gia đế quốc tư bản hồi đầu thế kỷ XX. Chính nhờ quá trình bôn ba ấy mà thế giới quan khoa học, cách mạng của Người được hình thành một cách triệt để. Như vậy rõ ràng là để có một thế giới quan duy vật, biện chứng khoa học cần phải có vốn hoạt động thực tiễn phong phú, sâu sắc, rộng lớn. Con người không thể cứ ngồi một nơi rồi đọc sách mà thế giới quan tự nó hình thành, tự nó đến.
     Năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở về Pháp, đến sống và hoạt động tại Pa-ri, một trung tâm văn hóa, khoa học, chính trị của cả châu Âu lúc bấy giờ. Nhờ lăn lộn trong phong trào hoạt động của giai cấp vô sản Pháp lúc bấy giờ mà người đã nhanh chóng đến với những tư tưởng mới. Trước khi tiếp cận với luận cương của Lê nin, Hồ Chí Minh đã sơ bộ kết luận chủ nghĩa tư bản, đế quốc đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công như nhau. Người lao động ở đâu cũng bị bóc lột, áp bức, đày đọa. Có thể nói, trước đại hội Tua, Hồ Chí Minh đẫ tiếp cận gần kề với chân lý của Lê nin, Người đã suy nghĩa về những vấn đề mà Lê nin đã viết, tuy chưa rõ ràng và sáng tỏ. Đến khi đọc luận cương của Lê nin, Người đã vui mừng đến trào nước mắt. Những chân lý mà bấy lâu Người nung nấu đã được bày tỏ một cách rõ ràng. Người đã tìm ra con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.
     Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Người với trí tuệ dân tộc và trí tuệ thời đại. Sự gặp gỡ này diễn ra trên cơ sở thế giới quan duy vật, khoa học và biện chứng. Rõ ràng, ở Hồ Chí Minh, thế giới quan duy vật, khoa học, biện chứng đã được phát triển lên đến đỉnh cao của dân tộc và thời đại.
     Thứ hai, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình bồi dưỡng, xây dựng thế giới quan cho sinh viên cần thấy rằng Hồ Chí Minh là người đã vận dụng một cách hết sức thành công và sáng tạo thế giới quan duy vật biện chứng vào thực tiễn cuộc sống, vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và đã đưa cuộc cách mạng đi đến thắng lợi vinh quang. Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Người đã nêu một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo. Người đã nắm bắt sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học, tinh thần biện chứng và nhân đạo của học thuyết Mác – Lênin, vận dụng một cách sáng tạo học thuyết ấy phù hợp với hoàn cảnh thực tế nước ta, đồng thời Người đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa của nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc đó. Việc Đại hội VII khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động là một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.
     Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Tư tưởng của Người đã và đang soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, trở thành những giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và lan tỏa ra thế giới.
     Ngày nay, khi sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng đi vào chiều sâu, những biến chuyển trên thế giới ngày càng lớn, những vấn đề mới đặt ra trong đời sống xã hội ngày càng nhiều. Điều đó đòi hỏi phải làm sáng tỏ để tìm ra sự giải đáp. Rõ ràng việc nghiên cứu, bảo vệ, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tế cuộc sống càng trở thành nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong công tác lý luận và chính trị của toàn Đảng, toàn dân.
     Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” xuất phát điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ một thanh niên thuộc địa, mất nước, ra đi tìm đường cứu nước, mục tiêu trước mắt của Người là giải phóng dân tộc. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, các dân tộc thuộc địa có thể b?ng con đường nào để giành được thắng lợi? Dưới ánh sáng Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc mình và cho cả các dân tộc thuộc địa khác. Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới.               
     b. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong giảng dạy vấn đề dân tộc, giai cấp và cách mạng xã hội.
     Khái niệm dân tộc hiểu theo nghĩa khoa học là một hình thức cộng đồng người cao hơn tất cả các hình thức cộng đồng người trước đó. Dân tộc là hình thức cộng đồng người gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước và các thể chế chính trị. Những cộng đồng người được coi là dân tộc có các đặc trưng chủ yếu như sau. Thứ nhất là có sự cộng đồng về ngôn ngữ, thứ hai là có cộng đồng về lãnh thổ, thứ ba là cộng đồng về kinh tế, thứ tư là cộng đồng về văn hóa, tâm lý, tính cách. Hình thức cộng đồng dân tộc có vai trò to lớn đối với sự phát triển con người và xã hội. Dân tộc không chỉ là sản phẩm của sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội mà còn là động lực, là cái nôi của mọi sự phát triển trong thời cận, hiện đại, từ sự tiến hóa bình thường cho đến cách mạng xã hội.
    Về vấn đề giai cấp, theo quan điểm của Lênin thì giai cấp là: “những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
     Về mối quan hệ dân tộc, giai cấp, nhân loại trên quan điểm triết học Mác - Lê nin, chúng ta thấy rằng sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức đòi hỏi phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ giai cấp-dân tộc-nhân loại.
     Giai cấp và dân tộc quan hệ mật thiết với nhau, song đó là những phạm trù chỉ các quan hệ xã hội khác nhau, mỗi nhân tố có vai trò lịch sử của nó. Giai cấp, dân tộc không thay thế lẫn nhau. Sẽ là sai lầm nếu tách rời giai cấp và dân tộc hoặc đem quy mối quan hệ này vào mối quan hệ kia. Giai cấp và dân tộc sinh ra và mất đi không đồng thời. Nguyên nhân sâu xa của áp bức dân tộc chính là sự áp bức giai cấp, do đó các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã kết luận rằng muốn xóa bỏ áp bức dân tộc trước hết phải xóa bỏ áp bức giai cấp, xóa bỏ triệt để vấn đề người bóc lột người.  
     Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc vừa là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập dân tộc, tự chủ, sáng tạo của Người trong việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê nin vào hoàn cảnh Việt Nam và các nước phương Đông. Khi quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy vấn đề dân tộc, giai cấp, nhân loại trong chương trình triết học ở bậc đại học cần chú ý mấy điểm then chốt.
     Thứ nhất: Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề dân tộc nói chung. Khi chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực hiện sự áp bức chính trị, bóc lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa đối các nước bị xâm chiếm thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa. Đây thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập. 
     Thứ hai: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Lịch sử Việt Nam là lịch sử không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đối với một người dân mất nước cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ quốc, tự do của nhân dân. Hồ Chí Minh đã từng nói rằng cái mà Người cần nhất trên đời là đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập, trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp. Tiếp nhận những nhân tố có giá trị trong hai bản tuyên ngôn bất hủ ấy, Người đã khái quát nên chân lý hiển nhiên về quyền cơ bản của các dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do.
     Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã được các đồng minh thắng trận long trọng thừa nhận, thay mặt những người Việt Nam nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã gửi đến hội nghị Véc xây một bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Sau khi đã trở thành lãnh tụ có uy tín, đứng ra hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Chánh cương vắn tắt cũng  như trong lời kêu gọi sau khi thành lập Đảng do Hồ Chí Minh trực tiếp khởi thảo, Người đã xác định mục tiêu chính trị của đảng là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
     Đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, chủ trì hội nghị trung ương 8 của Đảng, viết thư kính cáo đồng bào, Người chỉ rõ: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy"(3) . Người chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng Minh, ra báo Việt Nam độc lập, thảo Mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên là: "Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền". Hồ Chí Minh đã đúc kết ý chí đấu tranh cho độc lập tự do của nhân dân ta trong một câu nói bất hủ: "Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết dành cho được độc lập".
    Cách mạng Tháng Tám thành công, Người thay mặt cho Chính phủ Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, long trọng khẳng định trước quốc dân đồng bào và trước thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyển tự do, độc lập ấy"(4). 
     Trong các bức thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và chính phủ các nước vào thời gian đó, Người đã trịnh trọng tuyên bố rằng "nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước"(5).
 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc. Người ra lời kêu gọi: "Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"(6). Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh leo thang miền Bắc, Hồ Chí Minh lại đưa ra chân lý bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập tự do"(7). Đây không những là tư tưởng lớn mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là lý do chiến đấu, là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn động viên đối với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Vì vậy, Hồ Chí Minh không những được tôn vinh là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam mà còn được tôn vinh là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX.
     Thứ ba: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc luôn thể hiện nguyên tắc kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với CNXH, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế. Đối với Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc được tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng CNXH, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp được đặt ra. Đây là một vấn đề lý luận quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong thời đại cách mạng vô sản. Vấn đề dân tộc ở thời đại nào cũng được nhận thức và giải quyết trên lập trường của một giai cấp nhất định. Trong thời đại ngày nay, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhấn mạnh rằng chỉ đứng trên lập trường của giai cấp vô sản mới giải quyết được đúng đắn vấn đề dân tộc. Theo dõi quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng Người từ một người yêu nước đang tìm đường cứu quốc, đến với chủ nghĩa Mác - Lê nin đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình theo con đường của cách mạng vô sản, tức là đã tiếp thu lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê nin. Khi viết rằng: "Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó… thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam"(8), tức là Hồ Chí Minh đã nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh đã tiến hành đấu tranh phê phán quan điểm sai trái của một số Đảng Cộng sản Tây Âu trong cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò, vị trí cũng như tương lai của cách mạng thuộc địa và đi đến luận điểm các dân tộc thuộc địa phải dựa vào sức của chính mình, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới để trước hết phải đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc, rồi từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng XHCN và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản toàn thế giới. Như vậy có thể khẳng định ngay từ khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã thực sự kết hợp đúng đắn dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.               
     Thứ tư: Trong tư tưởng Hồ Chí Minh chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực lớn của đất nước. Năm 1924, Bác đã viết rằng ở các nước thuộc địa chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước. Khái niệm chủ nghĩa dân tộc mà Bác dùng ở đây chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân Việt Nam đã được đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là động lực tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Xuất phát từ vị trí của người dân thuộc địa mất nước, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, coi đó là một động lực lớn mà những người cộng sản phải nắm lấy và phát huy, không để ngọn cờ dân tộc rơi vào tay giai cấp khác. Rõ ràng quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rằng phải nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên lập trường của giai cấp vô sản kết hợp với chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế.
     Thứ năm: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc cần nhận thức sâu sắc rằng đối với Người, độc lập dân tộc luôn gắn liền với CNXH. Ngay từ khi gặp được luận cương của Lê nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa và hình thành được đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã sớm thấy rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản nên đã đi tới khẳng định: "cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới"(9).
 Năm 1930, trong Chánh cương, sách lược vắn tắt, Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn, làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đến năm 1960, Người khẳng định lại rõ hơn: "Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ".  Thật vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bước chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là tư tưởng lớn thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử xã hội Việt Nam. Chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên CNXH và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.
 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ phát huy tác dụng trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945 – 1954) mà còn xuyên suốt quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 – 1975).
     Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là tổng hợp những quan điểm chiến lược có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.
     Như vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – lênin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay./.

     Chú thích:

1. Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đã Nẵng 1998, tr 340.
2. M.Rôdentan, Từ điển Triết học, NXB Sự thật, Hà Nội 1976, tr540.
3. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, tập 3, tr 1.
4. Sdd, tập 4, tr4.
5. Sdd, tập 4, tr 469.
6. Sdd, tập 4, tr480
7. Sđ d, tập 12, tr 108.
8. Sđ d, tập 1, tr 469.
9. Sdd, tập 4, tr 416

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn