Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

NHẬN DIỆN NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG BẢO THỦ, TRÔNG CHỜ, Ỷ LẠI TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA VIỆT NAM

Tác giả : ThS. Ngô Bá Cường
File đính kèm: Không có

ThS. Ngô Bá Cường
Trưởng Phòng Khoa học – Thông tin – Tư liệu

     Lịch sử cho thấy tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại là một rào cản lớn, một tồn tại xã hội tác động tiêu cực đối với con đường vận động, phát triển của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới. Đặt trong không gian của đời sống văn hóa phương Đông nói riêng, việc nhận diện tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại cần được nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều trong đó đặc biệt chú ý các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Điều này vừa giúp tìm ra cơ sở hình thành đồng thời tránh được những biểu hiện nhận thức theo cách tiếp cận chủ quan, phiến diện.

     Đối với Việt Nam, việc nhận diện nguồn gốc của tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại trong không gian đời sống văn hóa giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, khách quan, khoa học để từ đó có thể xây dựng và thực hiện các giải pháp đấu tranh có hiệu quả, góp phần đưa đất nước và đời sống nhân dân ngày càng phát triển.

     Nghiên cứu qua các giai đoạn và cơ tầng văn hóa Việt Nam, có thể nhận thấy quá trình hình thành và phát triển tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại được bắt đầu từ những nguồn gốc sau:

     1. Tư duy “nhờ Trời”

     Xuyên suốt tiến trình hình thành và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đây là yếu tố chủ đạo chi phối mọi hoạt động của cư dân Việt Nam. Trong điều kiện sống phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, hoạt động sản xuất, canh tác nông nghiệp vốn là phương thức duy trì cuộc sống chủ yếu được đặt trong sự lệ thuộc vào yếu tố thời tiết (Trời), người Việt Nam sớm hình thành tư duy dựa vào tự nhiên, vận dụng điều kiện tự nhiên để tổ chức sản xuất và cuộc sống thay vì tư tưởng chế ngự, phản kháng lại tự nhiên. Chính vì thế mà câu nói: Ơn trời; nhờ trời; lạy trời…gần như đã trở thành câu cửa miệng trong giao tiếp xã hội: “Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày…”; “Lạy trời cho mưa thuận gió hòa”...   Mặc dù người Việt nói chung trong sâu thẳm vẫn mong muốn mình có được sức mạnh để chiến thắng thế lực đó, bằng chứng là huyền thoại Sơn Tinh đã được xây dựng từ rất sớm trong tâm thức, tín ngưỡng của người dân.

     Trong một bối cảnh như vậy, không khó để nhận ra rằng, từ tư duy “ nhờ trời” đã trở thành tiền đề cho tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại hình thành và phát triển. Hãy nghe những câu nói: “Khôn ngoan chẳng lại với trời”, “giàu nghèo có số”, “sống chết có số”…xuất hiện thường xuyên, dày đặc trong đời sống giao tiếp, ngay cả ở thời hiện đại khi mà các yếu tố khoa học, công nghệ cũng như các nguồn lực do chính con người tạo ra có thể làm thay đổi những số phận, những “trật tự” mà trước đây được cho là không thể.

     2. Tư duy nước đôi

     Trong một số kết quả nghiên cứu, khi so sánh hai loại hình tính cách, lối sống, cách suy nghĩ của người phương Đông với phương Tây đã cho chúng ta những kết quả rất thú vị. Người Việt Nam với tư cách là bộ phận trực thuộc khối văn hóa phương Đông có biểu hiện khá rõ nét và phổ biến về lối tư duy “nước đôi”.

       Nguồn gốc của lối tư duy này rất có thể là do xuất phát từ cả hai khía cạnh tự nhiên và xã hội. Về tự nhiên, do người Việt có đời sống kinh tế nông nghiệp luôn phải phụ thuộc vào tự nhiên, yếu tố bất khả kháng liên tục xuất hiện trong suy nghĩ. Điều này đồng nghĩa với việc muốn làm việc gì đó đều phải chờ đợi, nhờ cậy vào một hoặc những yếu tố ngoài bản thân. Về xã hội, ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa với Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Tam tài, học thuyết Nho giáo...đã ăn sâu vào đời sống xã hội và sinh hoạt tâm linh của người Việt khiến họ khi làm hoặc nói cái gì đều phải kết hợp cả cái tự thân và cái khách thể bên ngoài. Mặc nhiên, điều này không phải lúc nào cũng là mặt hạn chế. Thậm chí trong một số khuôn khổ nó thể hiện tính linh hoạt, biện chứng trong tư duy. Vấn đề là ở chỗ trong yêu cầu cải tạo tự nhiên và xã hội, để có sự phát triển thì tư duy theo kiểu này dễ dẫn đến tính chung chung, trừu tượng, thiếu rõ ràng, không chính xác... và theo đó hiệu quả giải quyết công việc không cao.

     Sẽ như thế nào khi chúng ta vẫn cho rằng: Làm người thì có đúng, có sai; nhân vô thập toàn. Điều này không sai, vì đó là quy luật. Tuy nhiên, nói như vậy nếu không đặt trong một nhận thức đúng đắn rất dễ làm cho chúng ta chấp nhận cái sai, cái chưa hoàn thiện. Điều đáng sợ chính là khi sự chấp nhận này trở thành thói quen, thành số đông thì cái sai sẽ lên ngôi, cái đúng, cái tốt sẽ bị chiếm chỗ, thậm chí cái Sai sẽ trở thành Đúng.

     Trong khi lệ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài, trong một số trường hợp người Việt đã giải thích nguyên nhân của cái thất bại, cái sai, cái hạn chế, khuyết điểm …là do khách quan, do người khác. Có lý khi có người đã cho rằng: điểm yếu lớn nhất của người Việt là nói về điểm yếu của mình. Điều đó cũng có nghĩa là người Việt thường có biểu hiện ngại hoặc không muốn đề cập đến hạn chế, khuyết điểm của bản thân. Theo đó không thích ai đó phê bình mình, ít tự kiểm điểm bản thân. Đó chính là mảnh đất màu mỡ cho tư tưởng bảo thủ phát triển.

      Điều này sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta: Tự phê bình và phê bình như soi gương, rửa mặt hàng ngày.

     3. Triết lý quân bình

     Do chịu ảnh hưởng từ lý thuyết về quy luật Âm-Dương, người Việt đã tư duy theo lối chuyển hóa (âm sinh dương, dương sinh âm): Sướng lắm thì khổ nhiều; Tiền vận long đong hậu vận thanh nhàn; trèo cao thì ngả đau; yêu nhau lắm, cắm(cắn) nhau đau; Tham thì thâm; Qua cơn bĩ cực ắt có ngày thái lai…

     Do có lối tư duy mang đậm tính cách âm dương, nắm vững quy luật “trong âm có dương, trong dương có âm” và quy luật chuyển hóa tạo nên vũ trụ hài hòa mà người nông nghiệp Việt Nam đã tạo cho mình triết lý sống quân bình. Trong thực tế, triết lý này có những điểm tích cực đáng trân trọng, đó là: Trong cuộc sống, cố gắng không làm mất lòng ai; Trong ăn uống, cố gắng giữ cho cơ thể được âm dương quân bình, hài hòa; trong việc ở, cố gắng tạo nên sự hòa hợp, cân đối với môi trường tự nhiên. Ngay cả trong các hình thức tín ngưỡng, chính lối tư duy này đã làm cho người Việt tạo ra được phong cách, trường phái tâm linh của riêng mình. Trong cuộc sống, người Việt dễ thích nghi với hoàn cảnh, sống lạc quan hơn: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”; “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”; “…Chớ than phận khó ai ơi! Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.
Tuy nhiên, cũng từ triết lý sống quân bình này, trải qua lịch sử xã hội với vô số yếu tố tác động khác cũng như chằng chịt những mối quan hệ phong phú, phức tạp của đời sống nông nghiệp làng xã đã làm xuất hiện tư tưởng bình quân chủ nghĩa, tư duy “chia đều” rất đáng phê phán trong xã hội. Đây là thứ đẻ ra thói xấu: Không ăn được thì đạp đổ; Không sợ khổ, chỉ sợ khổ hơn; Lụt thì lút cả làng; Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại... Đây cũng chính là “nguồn dưỡng chất” nuôi sống bệnh bảo thủ, hẹp hòi, nhỏ nhen, ích kỷ trong một bộ phận không nhỏ người Việt.

     4. Tư duy tổng hợp và lối sống trọng tình cảm

     Nghiên cứu về đặc tính tư tưởng của một dân tộc, một cộng đồng nào đó hoàn toàn không dễ dàng, càng khó hơn khi chỉ ra những điểm hạn chế của nó một cách trung thực, khách quan, khoa học.

     Theo suy nghĩ của chúng tôi, tư duy tổng hợp và lối sống trọng tình cảm của người Việt cần được nhìn nhận ở cả hai mặt của nó.

     Đương nhiên, ở mặt tích cực thì tư duy tổng hợp và lối sống trọng tình cảm là nền tảng rất quan trọng để tạo ra nhận thức biện chứng trong nhìn nhận, đánh giá, phân tích vấn đề đồng thời là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết, dân chủ trong cộng đồng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, tìm ra các căn nguyên dẫn đến tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại buộc chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận bên cạnh tính tích cực, ưu việt của tư duy tổng hợp và lối sống trọng tình cảm còn có những “hệ lụy không mong muốn”.

     Cũng như phần trên đã trình bày, nghề nông, nhất là nông nghiệp luá nước sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều, phụ thuộc vào tất cả các điều kiện tự nhiên, nên người Việt ngay từ rất sớm đã hình thành ý thức trông đợi, mong mỏi: “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm…Trông cho chân cứng đá mềm. Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”. Đây chính là cơ sở phát sinh của tư duy tổng hợp trong cư dân lúa nước Việt Nam do yêu cầu phải tổng hợp, bao quát được mọi yếu tố có liên quan đến đời sống sản xuất. Từ thực tiễn này mà tư duy tổng hợp sơ khai đã trở thành đặc tính phổ biến, thành phong cách “dự báo” điển hình theo kiểu “trông mặt mà bắt hình dong”. Chính từ lối tư duy theo kiểu tổng hợp, khái quát trên cơ sở những kinh nghiệm sống nên tự thân nó không thể tránh khỏi những hạn chế cố hữu đó là chủ quan, cảm tính, thiếu tính thực nghiệm, khách quan, lý tính.

     Bên cạnh đó, với cách thức tổ chức đời sống cộng đồng với nhiều ràng buộc đã khiến người Việt hình thành lối sống trọng tình cảm, trọng tập thể. Điều này gần như trở thành nguyên tắc sống, là thứ quy phạm có sức mạnh to lớn chi phối đời sống, tư tưởng của biết bao thế hệ: “Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”; “Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế”; “Đưa nhau đến trước cửa công, bên ngoài là lý, bên trong là tình”… Đây chính là nguồn cội của những tiêu cực trong rất nhiều mối quan hệ, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

     Nhận diện những điểm hạn chế của lối sống này ta thấy: Lối sống trọng tình cảm và cách cư xử mang tính dân chủ làng xã đã làm cho người ta dễ bị chi phối, thiếu nhất quán, không dám thể hiện bản lĩnh, bảo vệ cái Tôi, đồng thời luôn có xu hướng dựa vào tập thể, ỷ lại tập thể. Trong đời sống, do các tác động tự nhiên, xã hội, người Việt có tư duy, ứng xử cũng rất linh hoạt: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”; “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Điều này cũng dễ làm nảy sinh và phát triển bệnh tùy tiện, bệnh coi thường phép nước. 

     5. Tổ chức nông thôn và tính tự trị làng xã Việt Nam

     Đi tìm căn nguyên của bệnh bảo thủ, trông chờ, ỷ lại, chắc chắn chúng ta phải trở lại với đời sống nông thôn và những biểu hiện mang tính tự trị làng xã.

     Khác với tính liên kết theo kiểu phương tây (trang trại, lỏng lẻo, xã giao), làng xã Việt Nam hình thành từ nhu cầu liên kết chặt chẽ hơn nhiều. Không chỉ cần sinh đẻ nhiều để lấy nhân công làm việc trong sản xuất, người Việt coi trọng sự liên kết, hợp tác với nhau trong cộng đồng để hỗ trợ trong công việc đồng áng, dựng nhà cửa, chống thiên tai địch họa, trộm cướp. Vì thế mới có câu “bán anh em xa, mua láng giềng gần”, đồng thời có cả quan niệm “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Người Việt không thể thiếu bà con hàng xóm nhưng hết sức coi trọng quan hệ máu mủ, ruột thịt, họ hàng. Trong đời sống nông thôn được tổ chức theo địa bàn cư trú được giải quyết theo quan hệ hàng ngang, theo không gian làng xóm là nguồn gốc của tính dân chủ (làng mạc, sơ khai), bởi muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau. Đây cũng chính là điều kéo theo mặt trái là thói dựa dẫm, ỷ lại, bệnh đố kỵ, cào bằng.

     Bên cạnh đó, cách thức tổ chức nông thôn theo truyền thống trọng nam giới. Về lịch sử, hình thức này xuất hiện muộn hơn, khi mà Nho giáo đã thâm nhập sâu vào đời sống xã hội Việt Nam. Đơn vị Giáp thực ra là tên gọi chỉ hình thức tổ chức nông thôn thông qua bộ máy giúp việc làng xã. Cai Giáp là một nhân vật nam giới (chỉ có nam giới mới được tham gia). Trong Giáp chia thành thứ bậc, độ  tuổi, sức khỏe để xưng hô, tham gia các quan hệ của làng (chỉ có nam giới mới tham gia vào Giáp), trong đó càng cao tuổi càng được coi trọng. Những lợi ích về vật chất và tinh thần thông qua Giáp khiến người ta hình thành ý thức trọng người cao tuổi, trọng người có kinh nghiệm. Ngay cả ở các cộng đồng dân tộc, miền núi, nơi mà rất ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo thì từ ngàn xưa Già làng, Hội đồng già làng gần như nắm toàn bộ quyền hành. Vấn đề là ở chỗ, từ đây đã tạo ra một trật tự khép kín với các “định chế” cứng nhắc, thành cái gọi là “tôn ti trật tự” rất khó thay đổi. Tính bảo thủ làng xã đã dần ăn sâu trong từng con người, thành “ý thức tự giác” trong việc tôn thờ các quy định của làng xã, đồng thời trở thành “khuôn vàng, thước ngọc” để đánh giá, phán xét con người, sự việc trong cộng đồng bất chấp các giá trị đạo đức, văn hóa.

     Ở một khía cạnh khác, cộng đồng nông thôn được bao bọc bởi không gian địa lý và những phong tục, tập quán cộng đồng đã kéo theo tính tự trị làng xã. Tính tự trị cao độ này đã làm nảy sinh tư tưởng bảo thủ, cục bộ, địa phương chủ nghĩa; là một thực tế mà nhà nước trung ương nhiều khi phải bất lực: “Phép vua thua lệ làng”. Làng xã gần như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (Hương ước), tiểu triều đình riêng (hội đồng kỳ mục, lí dịch..). Tóm lại, tính cộng đồng, tự trị làng xã ở khía cạnh mặt trái là sự thủ tiêu vai trò cá nhân, thói dựa dẫm, ỷ lại, bệnh đố kỵ cào bằng; Óc tư hữu, ích kỷ, bè phái, địa phương, bệnh gia trưởng.

     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã rất quan tâm đến vấn đề văn hóa và xây dựng đường lối, chính sách văn hóa. Bằng chứng là Đề cương văn hóa Việt Nam đã được Đảng ta xây dựng trước khi Cách mạng tháng Tám thành công, đây là bước chuẩn bị rất cơ bản cho một nền độc lập thật sự, một chiến lược phát triển toàn diện và bền vững của sự nghiệp cách mạng nước ta. Trải qua các thời kỳ của lịch sử cách mạng Việt Nam, vấn đề đời sống tư tưởng, nhận thức của các tầng lớp nhân dân đã được chăm lo, góp phần cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra sức mạnh tổng hợp, sức mạnh tinh thần to lớn để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu và những hệ lụy do chế độ cũ để lại. Trong 30 năm đổi mới, chính yếu tố này đã trở thành một trong những động lực mạnh mẽ để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ lớn của đất nước. Tuy nhiên, khi nghiên cứu những hạn chế, khuyết điểm của 30 năm đổi mới được Đảng ta chỉ rõ tại Đại hội lần thứ XII, chúng ta có thể thấy những hạn chế, yếu kém đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan cơ bản là tư tưởng bảo thủ, trông chờ, ỷ lại vẫn còn tồn tại phổ biến và thậm chí còn nặng nề ở một số nghành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị. Đây là thách thức lớn, là căn bệnh tồn tại lâu dài trong đời sống xã hội chúng ta và bắt nguồn từ những nguồn gốc sâu xa. Đấu tranh để loại trừ căn bệnh này để mở đường cho phát triển là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đồng thời cần sự nỗ lực, bản lĩnh và quyết tâm chính trị của toàn Đảng toàn dân. Tôn trọng quy luật khách quan; Tôn thờ các giá trị khoa học và chân lý phổ biến trong hoạch định chính sách; Kiên quyết đấu tranh loại trừ tư duy chủ quan, chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh quan liêu, bảo thủ, giáo điều, máy móc, đẩy lùi tư tưởng trông chờ, ỷ lại; Thẳng thắn, trung thực trước những hạn chế, sai lầm, khuyết điểm; Dũng cảm và đoàn kết đấu tranh chống cái sai, cái ác, cái xấu; bảo vệ cái đúng, cái tốt đẹp, tiến bộ. Đó chính là nguyên lý, là quy luật của sự phát triển bền vững, là con đường, cách thức để phổ biến những giá trị văn hóa – xã hội tốt đẹp đến với mọi người, nâng cao trình độ sống, chất lượng cuộc sống  các tầng lớp nhân dân trong xã hội ta./.

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn