Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ TÂN KỲ TRONG VIỆC TỔ CHỨC, VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN HUY ĐỘNG NỘI LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Tác giả : Đào Văn Minh - Phó Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy Tân Kỳ
File đính kèm: Không có

I. Thực trạng “Hệ thống Chính trị ở cơ sở tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực xây dựng nông thôn mới” trên địa bàn huyện Tân Kỳ

1. Đánh giá thực trạng “Hệ thống Chính trị ở cơ sở tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực xây dựng nông thôn mới”

1.1. Những thành tựu đạt được

Cùng với điều tra, nghiên cứu, phân tích các yếu tố liên quan đến việc “Hệ thống Chính trị ở cơ sở trong tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực xây dựng nông thôn mới” (2 bảng tổng hợp kèm theo) chúng tôi đi sâu tìm hiểu vai trò của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong hệ thống chính trị tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực ba năm qua ở 5 xã, nhận thấy các xã đều có kết quả huy động nội lực tăng gấp hai, ba lần so với trước khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới.

Điển hình như xã Nghĩa Đồng, 3 năm qua có tổng giá trị đầu tư trên địa bàn là 89 tỷ 775 triệu, trong đó huy động dân nội lực là 2.717,533 triệu đồng, bình quân nhân khẩu đóng góp cho xây dựng nông thôn mới là 500 000 đồng/người/năm. Cách làm mới của Nghĩa Đồng là công khai, dân chủ thực hiện đúng phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, với khẩu hiệu hành động: “Phát huy nội lực; tranh thủ ngoại lực; đổi mới chỉ đạo; thống nhất điều hành; nhà, nhà có nghề; người, người có việc; dân chủ trực tiếp; đối thoại công khai; dân Đảng đồng lòng; vững bước tiến lên!”.

Từ khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới, nhiều xã, nhiều xóm đã huy động cao nội lực để xây dựng cơ sở hạ tầng và đều theo cách làm mới như Nghĩa Đồng nên tỷ lệ huy động nội lực của một công trình đều đạt từ 60% trở lên. Như nhân dân các xóm xã Tân Phú huy động nội lực xây dựng nhà văn hóa xóm đạt tỷ lệ trên 80% (Tân Lương góp 500 triệu, xóm Đức Thịnh góp 180 triệu, xóm Tân Yên góp 240 triệu đồng, trong thời gian 6 tháng xây dựng xong nhà văn hóa xóm và hiến 17.000 m2 đất để chỉnh trang nông thôn). Nhân dân xóm Đồng Tâm, xã Nghĩa Hoàn tự nguyện đóng góp 1 triệu/người/năm; nhân dân xóm Hạnh Phong, Xã Nghĩa Hoàn tự nguyện đóng góp 2 triệu/người/ năm, tự giám sát xây dựng đường nông thôn đạt tiêu chuẩn; nhân dân ở nhiều xóm, xã Kỳ Tân hiến gần 14.000 m2 để xây dựng nhà văn hóa xóm và mở rộng đường, chỉnh trang khu dân cư nông thôn. Nhân dân nhiều xóm ở các xã Tân An hiến hơn 10 nghìn m2, Nghĩa Hành hơn 31 nghìn m2, Nghĩa Thái, Tân Xuân, Kỳ Sơn, Nghĩa Bình, Nghĩa Dũng… đã góp hàng tỷ đồng, hàng nghìn ngày công, hiến hàng vạn m2 đất để chỉnh trang xây dựng nông thôn mới.

1.2. Những hạn chế, tồn tại

Bên cạnh các giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp về tài chính, việc xây dựng và huy động nguồn lực tri thức của các tầng lớp nhân dân ở nông thôn quan trọng hơn nhiều so với nguồn lực tiền vốn. Cơ chế chính sách để nâng cao ý thức làm chủ, năng lực làm chủ chưa được quan tâm giải quyết thì hệ thống chính trị ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn trong tổ chức, vận động nhân dân huy động các nguồn lực “xây dựng nông thôn mới”. Nếu chỉ bằng các lớp khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công hàng năm như lâu nay thường làm thì chưa thể khẳng định là đã nâng cao được tri thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong 21 xã nông thôn.

Hệ thống chính trị trong vận động “xây dựng nông thôn mới” được nhiều xã tự nhận là hoàn thành tiêu chí 18, đạt “Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh” nhưng trong thực tế hệ thống chính trị ở một số xã chưa khơi dậy tinh thần tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Chưa xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, chưa tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống nông dân, thì chưa thể nói có “Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh”.

Việc tổ chức thực hiện kế hoạch “Xây dựng nông thôn mới” là nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên ở xã, thôn, xóm, nhất là ở thôn, xóm. Công tác tổ chức cán bộ vẫn còn nhiều bất hợp lý, mâu thuẫn chưa giải quyết được. Mâu thuẫn giữa quyền hạn nhỏ và nhiệm vụ lớn, chế độ phụ cấp vừa thấp vừa chưa có cơ chế trả phụ cấp theo hiệu quả công tác theo kiểu giả vờ làm việc, giả vờ hưởng phụ cấp. Công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo sử dụng cán bộ ở cấp xóm còn nhiều yếu kém, bất cập. Nhiều nghị quyết, chính sách rất hay, rất toàn diện nhưng không được triển khai, thực hiện nghiêm túc và không đến được với người dân là do năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ cơ sở chưa đáp ứng được.

1.3. Nguyên nhân của những tồn tại yếu kém

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính: mà trước hết đó là cán bộ và công tác tổ chức cán bộ. Mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân có xu hướng ngày càng xa cách. Phương pháp huy động nội lực còn làm theo kiểu chia đều áp đặt, quy trình thủ tục để nhân dân bàn bạc các khoản đóng góp xây dựng nông thôn mới chưa thực hiện đúng “quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở” theo Pháp lệnh 34/2007- PL/UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nên chưa phát huy được nội lực.

Nhiều cán bộ, đảng viên chưa đánh giá đúng vai trò cũng như sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, chưa “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”1. Tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nhiều xã còn hạn chế, nhất là ở xóm, bản là nơi trực tiếp tuyên truyền, tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới đến tận mỗi một người dân.

Một số chủ trương, chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhưng chậm được điều chỉnh, bổ sung kịp thời; đầu tư từ ngân sách nhà nước và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn thấp. Nạn tham nhũng, tệ quan liêu cùng với cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện theo cơ chế thị trường đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân, dẫn đến ý thức làm chủ và năng lực làm chủ của nhân dân đang có nguy cơ ngày càng giảm sút.

Thực trạng việc “Hệ thống Chính trị tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực xây dựng nông thôn mới” trong 3 năm qua tuy có khá hơn thời gian trước khi có chủ trương “Xây dựng nông thôn mới” song còn nhiều bất cập so với nhu cầu đầu tư phát triển. Các nguồn lực mang tính quyết định để xây dựng thành công nông thôn mới chưa đạt yêu cầu.

Thứ nhất, người dân chưa nhận thức đúng vai trò chủ thể thực sự trong việc “xây dựng nông thôn mới” cả về ý thức làm chủ và năng lực làm chủ.

Thứ hai, năng lực và chất lượng công tác của đội ngũ cán bộ ở cấp xã và xóm còn nhiều bất cập, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Các quy định hiện hành về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức (chi bộ, xóm, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở xóm); Quyền hạn, trách nhiệm, cơ chế điều hành, quản lý, chế độ đãi ngộ của các chức danh cán bộ còn nhiều bất hợp lý, chưa sát với thực tiễn.

Thứ ba, các cơ chế, chính sách đầu tư để kích cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn còn mang nặng cơ chế bao cấp (xin - cho).

Ba tồn tại này cũng chính là ba cản trở lớn cho quá trình “Hệ thống Chính trị ở cơ sở tổ chức, vận động nhân dân huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới” và cũng là ba vấn đề mà đề tài nghiên cứu này đề xuất giải pháp để giải quyết.

II. Một số giải pháp để “Hệ thống Chính trị tổ chức, vận động nhân dân huy động nội lực xây dựng nông thôn mới”

1. Đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền để nâng cao ý thức làm chủ của người dân lao động, của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại”2. Trong thời gian tới cần phải đổi mới toàn diện công tác tuyên truyền cả về nội dung và phương pháp. Tập trung tổ chức quán triệt, tuyên truyền, giáo dục, vận động sâu rộng trong toàn xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặc biệt là vai trò làm chủ của người dân. Thời gian tới phải huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị bằng nhiều kênh, nhiều hình thức tuyên truyền phong phú như truyền thanh, truyền hình, tuyên truyền miệng, phát tờ rơi, sân khấu hóa, đặc biệt là sân khấu hóa đổi mới cơ bản nội dung tuyên truyền của “Tiếng hát làng Sen”, gắn với các nội dung tuyên truyền về vai trò làm chủ, năng lực làm chủ trong xây dựng nông thôn mới của các tầng lớp nhân dân ở nông thôn. Một cụm xã thành lập một đội văn nghệ tuyên truyền để triển khai các nội dung “xây dựng nông thôn mới” và “những quy định pháp luật cần thiết cho người dân ở cơ sở” đến tận các xóm cho mỗi một người dân đều nắm vững những chủ trương, chính sách của Đảng, các nghị định, chương trình, kế hoạch của chính phủ. Hiểu được quy hoạch sử dụng đất đai, lộ trình để thực hiện các tiêu chí “xây dựng nông thôn mới” tại xã mình, xóm mình. Hiểu được con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại địa phương mình; 19 tiêu chí nông thôn mới tại xã, thôn, xóm là thế nào; trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi một người dân là như thế nào trong việc xây dựng nông thôn mới. Tổ chức cho cán bộ xã, xóm đi tham quan học hỏi các mô hình, điển hình “xây dựng nông thôn mới” trong và ngoài huyện để rút kinh nghiệm việc huy động nội lực và tổ chức thực hiện các kế hoạch “xây dựng nông thôn mới” tại địa phương mình.

2. Tổ chức thực hiện tốt QCDC ở cơ sở theo pháp lệnh 34 PL/2007- UBTVQH11

Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”3 chưa được cụ thể hóa, chậm đi vào cuộc sống. Để cho đội ngũ cán bộ, đảng viên vận động, giác ngộ được vai trò làm chủ của người dân, nâng cao năng lực làm chủ của người dân ngoài việc “tuyên truyền” còn phải: “gần dân, học dân, tin dân, hiểu dân, trọng dân, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, có trách nhiệm với dân”4.

Trước hết cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị phải tin dân, học dân, coi dân là những người thầy dạy bao điều quý giá cho công tác của mình. Trong thực tế không ít cán bộ, đảng viên thường ngộ nhận cho rằng dân là ít học, học hàm, học vị chẳng có gì, không thèm học hỏi dân chúng, hoặc có vị cán bộ mới làm được một số việc thành công đã tự cho mình là tài giỏi, đáng làm lãnh tụ. Vấn đề này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có đầu óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng, lãnh tụ”5 và Người cũng khuyên nhủ, muốn tuyên truyền vận động được quần chúng cán bộ phải học cách nói của quần chúng, “Vì cách nói của dân chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại đơn giản”6.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải giữ mối liên hệ mật thiết với dân chúng và luôn gần gũi lắng nghe ý kiến của dân chúng. Đây là việc làm rất quan trọng, nhân tố chính tạo nên mọi thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh ví việc “Cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”7.

Thứ ba, trong thực tế xã hội nông thôn hiện nay đã có những thay đổi cơ bản, do cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến việc phân hóa giai cấp, ngay trong giai cấp nông dân cũng có người giàu, cũng có người nghèo đói, suy nghĩ, tư tưởng của các tầng lớp này khác nhau, lợi ích khác nhau, thậm chí có những nhóm mâu thuẫn lợi ích gay gắt. Do vậy khi tổ chức cho nhân dân thảo luận, bàn bạc để huy động nội lực, tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, phương án thực hiện các tiêu chí để “xây dựng nông thôn mới” tại xã mình, xóm mình, đội ngũ cán bộ phải điều tra khảo sát vấn đề đó trước, phải dự kiến được trước các phương án thực thi kế hoạch, phải lường trước các tình huống có thể xảy ra, phải giữ nguyên tắc cùng bàn bạc với quần chúng, không được bị động, lúng túng trong quá trình thảo luận bàn bạc, không được “đánh đố” dân, không được ép buộc theo kiểu lấy nghị quyết hội đồng nhân dân xã để áp đặt. Trước hết phải bàn bạc với những người hăng hái trong quần chúng, bộ phận đa số trong quần chúng có tư tưởng tiến bộ. Thông qua bàn bạc thực sự dân chủ để cán bộ hiểu dân hơn, từ đó nâng cao ý thức làm chủ của quần chúng bằng cách “chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần sự giác ngộ của dân chúng”8. Chỉ có bàn bạc thật sự dân chủ mới khơi dậy không khí dân chủ, đề ra sáng kiến và tinh thần hăng hái của quần chúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, 3 điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng hăng hái và người khác cũng học theo, trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt cũng tự sửa chữa được nhiều”9.

3. Đổi mới việc đánh giá, quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, sử dụng, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật cán bộ

Nguồn lực chính để xây dựng nông thôn mới chủ yếu là khai thác ý thức làm chủ, nâng cao năng lực làm chủ của cán bộ, đảng viên, của “Hệ thống chính trị ở cơ sở” và các tầng lớp nhân dân. Mấy năm gần đây công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, sử dụng, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật cán bộ nhìn chung có nhiều chuyển biến tiến bộ, nhất là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã tăng cả về số lượng và chất lượng. Song thực trạng đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng được đòi hỏi của công cuộc đổi mới. Nguồn cán bộ ở cấp xóm vừa yếu lại vừa thiếu, cán bộ, sỹ quan nghỉ hưu, phần lớn sức khoẻ yếu nhưng lại “là nguồn đầu vào” của cán bộ cấp xóm. Trong lúc đó thực tiễn hiện nay để xây dựng Nông thôn mới đòi hỏi cán bộ xóm phải là lực lượng trẻ có phẩm chất đạo đức tốt, lập trường chính trị vững vàng, có trình độ, có năng lực thực tiễn “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, tự nguyện về xóm làm cán bộ lâu dài thì Đảng và nhà nước chưa có chính sách khuyến khích thỏa đáng cho nên lực lượng này ngày càng giảm dần. Nguồn quy hoạch ở cấp xã hiện nay phần lớn trẻ khỏe, có trình độ bằng cấp nhưng qua thực tế chưa đạt yêu cầu cả về tinh thần trách nhiệm làm chủ và năng lực thực tiễn để xây dựng Nông thôn mới, số đông đang làm việc “theo kiểu hành chính” “cơm vua ngày trời”, chưa có cơ chế để gắn “cống hiến và hưởng thụ”, nghĩa vụ và quyền lợi. Do vậy, phải đánh giá cán bộ qua hiệu quả công tác và để cho toàn dân tham gia việc đánh giá phẩm chất, năng lực thực tiễn của cán bộ cơ sở. Việc đánh giá cán bộ phải gắn với việc khen thưởng, kỷ luật và phải làm thường xuyên. Bỏ tình trạng phân công nhiệm vụ cho cán bộ chung chung, “phụ trách chung” không có nhiệm vụ cụ thể để đánh giá. Phải có hộp thư góp ý, đánh giá của toàn dân (ở xóm và ở xã) hàng tháng tập thể Ban Thường vụ (cấp xã) hoặc tập thể Chi ủy hoặc Bí thư Chi bộ mở hòm phiếu góp ý của nhân dân. Đồng chí chủ trì hội nghị mở hộp thư đọc công khai dân chủ các ý kiến đóng góp của nhân dân để đồng chí được góp ý liên hệ giải trình tự kiểm điểm những vấn đề đã được nhân dân góp ý trong một hội nghị (cấp xã hoặc cấp xóm).

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo của chi bộ Đảng, năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc huy động nội lực

Để chi bộ thực hiện được “Vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị” tại xóm, trước hết các chi bộ phải đồi mới được nội dung sinh hoạt chi bộ, đổi mới được việc phân công công tác cho cán bộ, đảng viên, mở sổ theo dõi hiệu quả công tác, quản lý đội ngũ cán bộ đảng viên trong xóm theo đề án 05 ĐA/HU ngày 1/7/2011 của Ban Thường vụ Huyện ủy. Vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển cán bộ, kỷ luật phải căn cứ vào hiệu quả công tác để xử lý nhanh chóng, linh hoạt.

5. Giải pháp sửa đổi cơ chế, chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đào tạo nghề cho nông dân để tạo đà cho huy động cao các nguồn nội lực

Các vướng mắc, rào cản, các bất hợp lý trong việc khai thác nội lực “xây dựng nông thôn mới” hiện nay một phần do các cơ chế, chính sách chưa hợp lý, thiếu cụ thể và chưa phát triển theo cơ chế thị thường, thậm chí còn mang nặng tính bao cấp. Cơ chế “xin - cho” đã làm cho căn bệnh lãng phí, tham nhũng, vô trách nhiệm, không có ý thức làm chủ ngày càng nặng thêm. Việc sửa đổi kịp thời một số chính sách, quy định của luật, văn bản dưới luật để phá bỏ các rào cản trong đầu tư xây dựng nông thôn mới, giải phóng các tiềm năng của các nguồn tài nguyên đất đai, khoáng sản, công trình giao thông, thủy lợi, cơ sở hạ tầng hiện có tại địa phương là giải pháp cực kỳ quan trọng để kích cầu phát triển nông nghiệp, thu hút nguồn đầu tư của các thành phần kinh tế, đồng thời là một trong những giải pháp giải quyết có hiệu quả việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Chú thích:

(1) Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, trang 31, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phát hành năm 2012.

(2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 162, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

(3) Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, trang 34, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phát hành năm 2012.

(4) Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, trang 31, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phát hành năm 2012.

(5) Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, tập 5, tr 206, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phát hành năm 2012.

(6) Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới, tập 5, trang 301, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh phát hành năm 2012.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 285, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

(8), (9) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 244, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn