Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ NGHỆ AN

Tác giả : Nguyễn Thị Hoài An - Phó Trưởng phòng KH-TT-TL
File đính kèm: Không có

Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latin “Scienta”, nghĩa là tri thức. Theo Webter’s New Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt được qua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”.1

Nghiên cứu khoa học là một loại hình hoạt động đặc biệt nhằm đưa lại những nhận thức mới, những giá trị về kiến thức, tư tưởng… Thông qua hoạt động này con người đã không ngừng khám phá được cái mới, không ngừng tìm tòi phát hiện ra chân lý, tiếp cận chân lý.2 Có thể nói ngắn gọn: nghiên cứu khoa học là một (hoặc những) hoạt động của con người nhằm mở rộng tri thức qua phương pháp khoa học.

Nghiên cứu khoa học là một trong những những hoạt động cơ bản của giảng viên. Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập của nước ta hiện nay, để khoa học, công nghệ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, các nhà nghiên cứu, những người làm công tác khoa học, nhất là giảng viên phải là lực lượng nòng cốt trong việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu đó vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sở dĩ nói giảng viên là lực lượng nòng cốt là bởi người thầy đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ: giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Hai nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau; nếu chỉ thực hiện được một trong hai nhiệm vụ ấy thì có nghĩa, người thầy đó chưa hoàn thành nhiệm vụ của mình. Như vậy, nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu của mỗi giảng viên, trong đó có giảng viên trường chính trị.

Hoạt động nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng của Trường Chính trị Nghệ An. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là uy tín, danh dự và sự tồn tại của nhà trường. Nghiên cứu khoa học là hoạt động hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Hoạt động này đang được đổi mới theo hướng gắn lý thuyết với thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xu thế hội nhập và phát triển. Vì vậy, trong những năm qua, Trường Chính trị tỉnh Nghệ An đã không ngừng đẩy mạnh đổi mới nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn cho đội ngũ công chức, viên chức nhà trường, nhất là các đối tượng giảng viên. Hoạt động nghiên cứu khoa học đã được Ban Giám hiệu nhà trường quan tâm, tạo điều kiện nhất định để động viên cán bộ, giảng viên tham gia. Theo số liệu thống kê của Phòng Khoa học -Thông tin - Tư liệu cho thấy, số lượng các công trình nghiên cứu khoa học và sáng kiến kinh nghiệm khá nhiều và đã phần nào đã tạo ra được sự đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, phát huy tính tích cực chủ động của giảng viên, góp phần thúc đẩy công tác giảng dạy đạt kết quả tốt hơn.

Tuy nhiên, để hoạt động nghiên cứu KH của Trường Chính trị Nghệ An, với tầm vóc của một đơn vị đi đầu trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Tỉnh về công tác Đảng, công tác cán bộ…, các nghiệp vụ về Đảng, Nhà nước và các đoàn thể…, xứng đáng với bề dày gần 70 năm xây dựng và trưởng thành, có những kết quả tốt hơn thì vẫn còn nhiều nội dung, nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, trao đổi.

Kết quả nghiên cứu khoa học trong 10 năm gần đây cho thấy vẫn còn có sự bất cập giữa nghiên cứu và giảng dạy trong đội ngũ giảng viên. Tại trường Chính trị Nghệ An nói riêng và tại hầu hết các trường đại học nói chung, dường như giảng viên đặt nặng hơn đối với việc giảng dạy và có phần coi nhẹ hơn hoạt động nghiên cứu. Nếu chúng ta tự hào về công tác giảng dạy cả về số lượng (qua thống kê số lớp, số chương trình, số giờ giảng) lẫn chất lượng các bài giảng (thông qua các kênh khảo sát, các kết quả các cuộc thi giáo viên dạy giỏi) thì kết quả hoạt động khoa học của nhà trường vẫn còn nhiều băn khoăn. Số lượng giảng viên tham gia nghiên cứu không nhiều, một tỷ lệ khá lớn trong số đó chưa thật nhiệt tình và say mê nghiên cứu; vì thế, nhiều công trình nghiên cứu vẫn còn hạn chế về chất lượng nghiên cứu với hàm lượng khoa học chưa cao. Nhà trường có một tờ Nội san phát hành 2 kỳ mỗi năm và một Cổng thông tin điện tử nhưng rất khó để lựa chọn các bài viết để đăng tải.

Vẫn còn tình trạng đối phó trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Theo quy định của Thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT, giảng viên phải thực hiện một số lượng giờ nghiên cứu khoa học nhất định, từ đó quy ra phải có bao nhiêu bài báo, đề tài… mang tính chất khoán. Vì thế, một số giảng viên thực hiện viết bài nghiên cứu khoa học chỉ nhằm mục tiêu “hoàn thành kế hoạch” mà không quan tâm lắm đến chất lượng công trình mà mình công bố. Nhiều công trình nghiên cứu không có giá trị. Do tư tưởng đối phó “làm cho xong”, nên việc “xào- nấu” khá phổ biến trong hoạt động nghiên cứu. Một công trình được đánh giá xuất sắc khi nghiệm thu, nhưng lại chẳng có nhiều đóng góp mới trên phương diện khoa học (nếu không muốn nói là quá ít). Ngoài ra, việc nghiên cứu những gì đã có sẵn cũng được áp dụng để nhằm giảm thiểu chi phí và công sức thực hiện…, dẫn tới rất nhiều công trình sau khi nghiệm thu đều được đóng bìa cứng xếp vào tủ kính. Một số công trình được “thâm canh”, “tăng vụ” nhiều lần, năm ở địa phương này, năm ở địa phương khác… trong Tỉnh. Những công trình ấy không thể đem lại hiệu quả tốt, nâng cao trình độ của người nghiên cứu, mà ngược lại, còn gây lãng phí thời gian và tiền bạc.

Đa số các nghiên cứu chưa hướng tới phục vụ trực tiếp cho hoạt động của Nhà trường. Thống kê trong 10 năm trở lại đây, những công trình để phục vụ trực tiếp cho hoạt động của nhà trường như một số đề án đổi mới xây dựng trường không nhiều. Thực tế cho thấy, Trường Chính trị Nghệ An vẫn còn nhiều vấn đề cấp thiết chưa được giải quyết, trong khi đó, phần lớn các nghiên cứu đều có đối tượng, phạm vi nghiên cứu rộng hơn, mà nhiều khi, do khoảng cách quá xa, điều kiện đi lại không thuận lợi và nguồn kinh phí có hạn, nên số liệu cũng như giải pháp đưa ra thiếu tính thực tế, khó kiểm chứng, dẫn tới giá trị và tính khả thi không cao.

Vậy, nguyên nhân của thực trạng này là gì?

Từ thực tiễn làm công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý hoạt động khoa học tại Trường Chính trị Nghệ An, người viết có thể đưa ra một số nhận định như sau:

Thứ nhất, hầu hết các giảng viên có khả năng nghiên cứu, có tố chất làm khoa học đều là những người đã có thâm niên công tác và cả thành tích nghiên cứu cũng như giảng dạy…; tuy nhiên, họ lại thường là lãnh đạo, quản lý nên thời gian dành cho nghiên cứu thường không nhiều và phải “tranh thủ”.

Thứ hai, giảng viên phải giảng dạy quá nhiều. Theo quy định số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT, giảng viên phải đảm nhiệm 280 giờ chuẩn, giảng viên chính 300 giờ chuẩn, giảng viên cao cấp 320 giờ chuẩn. Dễ dàng suy luận ra rằng, giảng viên chính và giảng viên cao cấp là những người có nhiều năm công tác, có kinh nghiệm và năng lực tốt thì phải đảm nhận giờ giảng nhiều hơn (ở các nước trên thế giới tỷ lệ này là ngược lại), đồng thời họ lại đảm nhiệm thêm các nhiệm vụ quản lý. Mặt khác, s giờ chuẩn đã tương đối nhiều, song trên thực tế, số giờ mà giảng viên thực dạy còn lớn hơn nữa. Theo thống kê của Phòng Đào tạo, năm 2013 nhiều giảng viên vượt định mức giờ chuẩn nhiều lần – thường là gấp đôi số định mức, cá biệt có người vượt đến 7, 8 lần, tức là dạy tới 1.500 – 2.000 giờ giảng/năm. Với số giờ giảng nhiều như vậy nên giảng viên không còn thời gian (và cả sức lực) dành cho việc nghiên cứu. Dĩ nhiên, việc đảm nhiệm giờ giảng nhiều như vậy đòi hỏi giảng viên phải rất cố gắng, vì lợi ích của bản thân họ đồng thời cũng vì mục tiêu bảo đảm chương trình kế hoạch của nhà trường. Vì vậy, nếu yêu cầu họ phải thực hiện đủ giờ nghiên cứu khoa học theo quy định thì việc có những sản phẩm khoa học chất lượng không cao, mang tính đối phó là chuyện hiển nhiên.

Thứ ba, định hướng nghiên cứu khoa học nhưng chưa thật khoa học. Hiện nay, vẫn còn khá phổ biến tình trạng người muốn thực hiện đề tài thì cứ đăng ký theo “thế mạnh”, theo “vốn có sẵn” của mình. Vì thế nên dù hướng nghiên cứu có được thông qua Hội đồng Khoa học nhiều lần thì cũng vẫn là xét duyệt theo đăng ký, phụ thuộc vào người đăng ký, chứ ít khi xuất phát từ nhu cầu thực của Trường, của Tỉnh, của ngành hay của xã hội.

Thứ tư, thù lao được trả chưa xứng với công sức bỏ ra. Kinh phí cấp cho các đề tài nghiên cứu của Tỉnh đã thấp so với mặt bằng chung trong cả nước do điều kiện thực tế của tỉnh nhà, nhưng với các công trình nghiên cứu cấp trường hoặc bài báo thì số kinh phí còn thấp hơn. Các mức thù lao thực hiện đề tài chỉ ở mức “hỗ trợ”. Một số cá nhân có khả năng nghiên cứu thêm cũng không được khuyến khích ngoài mức hỗ trợ này bởi nguồn lực tài chính của Trường có giới hạn. Vì thế, không khuyến khích được giảng viên nghiên cứu và chất lượng công trình cũng không thể cao.

Thứ năm, thiếu sự liên kết giữa trường với các đơn vị cơ sở. Hầu hết các đề tài nghiên cứu ở địa phương đều khá bị động, chưa có sự liên kết, trao đổi chặt chẽ giữa đơn vị nghiên cứu thực hiện đề tài với đơn vị thuộc đối tượng, không gian nghiên cứu. Nhiều đề tài được đăng ký thực hiện ở một địa phương nhưng địa phương lại không được thông báo trước và được hỏi ý kiến xem có phù hợp và cần thiết hay không. Do thiếu sự phối hợp nên chưa tranh thủ được sự hỗ trợ các nguồn lực của các địa phương cũng như việc áp dụng kết quả nghiên cứu của đề tài cho địa phương đó. Đây cũng là một nguyên nhân khá quan trọng liên quan đến chất lượng và hiệu quả của việc nghiên cứu khoa học của nhà trường.

Thứ 6, trình độ và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin của đa số bộ phận giảng viên chưa cao. Thông qua các bài viết, các công trình khoa học, các chương trình giáo trình tham gia xây dựng có thể thấy kỹ năng sử dụng, khai thác thông tin của cán bộ giảng viên nhà trường chưa được khai thác và sử dụng tối ưu. Chính việc sử dụng công nghệ này chưa tốt nên nhiều khi giảng viên chưa có cái nhìn bao quát về những thông tin xung quanh nội dung mình nghiên cứu.

Để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, khắc phục những nhược điểm nói trên và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Chính trị Nghệ An, người viết xin đưa ra một số giải pháp sau:

Thứ nhất, xây dựng cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính hợp lý tạo động lực thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học

Lãnh đạo nhà trường đã có sự quan tâm chỉ đạo cho hoạt động khoa học thông qua các cơ chế chính sách đổi mới như: cho phép Phòng Khoa học – Thông tin – Tư liệu chủ động tham mưu một số hoạt động thuộc lĩnh vực khoa học phù hợp trong nhà trường trong điều kiện hiện tại, tăng kỷ phần ngân sách cho hoạt động khoa học, phối hợp với các cơ quan trong tỉnh để thúc đẩy và đa dạng hóa các hoạt động cũng như các ứng dụng khoa học… Trong thời gian tới, cần xem xét, rà soát lại các hệ thống quy chế, bổ sung các quy định cần thiết để xây dựng một quy chế lĩnh vực khoa học đồng bộ theo hướng động viên cho hoạt động khoa học.

Thứ hai, cần có định hướng cho hoạt động nghiên cứu của giảng viên

Hiện nay, ta đang theo cơ chế “xét duyệt” nhiệm vụ nghiên cứu đề tài. Việc làm này đã đem lại những tác dụng nhất định trong nghiên cứu; tuy nhiên, như đã trình bày, thường những cá nhân tham gia đều đưa những hướng nghiên cứu vốn là thế mạnh của mình (tất nhiên là phải thuyết phục được Hội đồng xét duyệt về tính cấp thiết), trong khi đó, có nhiều vấn đề thực sự cần thiết và mang lại hiệu quả, nhưng do quá “hóc búa” hoặc khó khăn khi triển khai nên không ai thực hiện. Do vậy, bên cạnh việc xét duyệt đề tài, cần có cơ chế giao khoán những đề tài này cho những cá nhân, đơn vị có khả năng thực hiện đề tài, đặc biệt là những đề tài nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường.

Thứ ba, có cơ chế để quy đổi giờ NCKH thành giờ giảng với một tỷ lệ nhất định, để động viên giảng viên nghiên cứu khoa học

Theo quy định của Thông tư liên tịch số 06 nói trên, thời gian làm việc của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp theo chế độ tuần làm việc là 40 giờ; tổng quỹ thời gian làm việc hàng năm là 1.760 giờ với định mức thời gian làm việc hàng năm theo từng nhiệm vụ, đối với mỗi chức danh cụ thể (Xem Phụ lục). Điều 11 của Thông tư quy định: Trong từng năm học, mỗi giảng viên phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang giữ và quỹ thời gian quy định tại Khoản 2, Điều 9 của Thông tư này. Những giảng viên không hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thì số giờ dành cho việc nghiên cứu khoa học theo quy định được quy đổi thành giờ chuẩn để giảm trừ vào số giờ giảng dạy, thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn khác vượt định mức giờ chuẩn khi thanh toán tiền lương dạy thêm giờ. Như vậy, các văn bản hiện hành đã quy định việc quy đổi giờ giảng thành giờ nghiên cứu khoa học nhưng trong đó đã bộc lộ sự thiếu động viên khích lệ. Trường hợp giảng viên thiếu giờ nghiên cứu khoa học thì lấy giờ giảng bù nghĩa vụ, ngược lại, giảng viên thừa giờ nghĩa vụ nghiên cứu khoa học lại không được quy đổi thành giờ giảng mà chỉ được tính bù nghĩa vụ khoa học cho năm tiếp theo. Vì vậy, nhà trường cần có cơ chế động viên, khích lệ những giảng viên có nhiều thành tích nghiên cứu khoa học thông qua cơ chế quy đổi giờ nói trên, đồng thời nghiêm túc thực hiện việc áp dụng các chế tài đối với các giảng viên không hoàn thành nghĩa vụ nghiên cứu khoa học.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa Trường với các đơn vị trong phạm vi không gian nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, lãnh đạo nhà trường đã có một số hoạt động phối hợp trong công tác khoa học như liên hệ với các địa phương thuộc phạm vi không gian nghiên cứu của các đề tài, đã tổ chức và đang có kế hoạch tiếp tục thực hiện việc đồng tổ chức một số hội thảo chuyên đề cấp tỉnh. Trong thời gian tới, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động này để vừa tạo một diễn đàn khoa học sôi nổi vừa tranh thủ được nguồn tài chính bên ngoài và học hỏi thêm kinh nghiệm nghiên cứu. Tạo điều kiện cho giảng viên có cơ hội tham gia các hội thảo khoa học bên ngoài nhà trường kết hợp với việc tổ chức các hội thảo sinh hoạt chuyên môn nhỏ cấp khoa để vừa đa dạng hóa các hoạt động khoa học vừa tiếp cận được nhiều thông tin thực tiễn từ các đơn vị ngoài nhà trường.

Thứ năm, tăng cường đầu tư cho Thư viện của nhà trường, bổ sung các trang thiết bị nghe, nhìn cần thiết để phục vụ tốt cho hoạt động thông tin khoa học, tạo điều kiện tối ưu để giảng viên tiếp cận với các phương tiện ứng dựng công nghệ thông tin.

Trên đây là một số nhận định về công tác khoa học của Trường Chính trị Nghệ An. Để tiếp tục thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường cần phải có sự thực hiện đồng bộ các giải pháp. Tuy nhiên, việc hiện thực các giải pháp đòi hỏi phải có thời gian và bước đi thích hợp. Với một đội ngũ lãnh đạo và giảng viên có trách nhiệm, yêu nghề, với một bề dày truyền thống lịch sử tự hào gần 70 năm, chúng ta tin rằng bức tranh khoa học của nhà trường sẽ ngày càng khởi sắc./.

Phụ lục

Thông tư 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT Quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách đối với giảng viên tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.(Trích)

Điều 9. Chế độ làm việc, giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp

1. Thời gian làm việc của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp theo chế độ tuần làm việc 40 giờ; tổng quỹ thời gian làm việc hàng năm là 1.760 giờ.

2. Định mức thời gian làm việc hàng năm theo từng nhiệm vụ, đối với mỗi chức danh cụ thể như sau:

Đơn vị tính: giờ


Nhiệm vụ

Chức danh

Giảng dạy

Nghiên cứu

Hoạt động chuyên môn và các nhiệm vụ khác

Giảng viên

900

400

460

Giảng viên chính

900

500

360

Giảng viên cao cấp

900

600

260


Điều 10. Giờ chuẩn giảng dạy, định mức giờ chuẩn giảng dạy và quy đổi ra giờ chuẩn giảng dạy

1. Giờ chuẩn giảng dạy: Là đơn vị thời gian quy đổi từ số giờ lao động cần thiết để hoàn thành một khối lượng công việc nhất định thuộc nhiệm vụ giảng dạy đối với mỗi chức danh tương đương với một tiết giảng lý thuyết, thực hành trên lớp, bao gồm thời gian lao động cần thiết trước, trong và sau tiết giảng.

2. Khung định mức giờ chuẩn giảng dạy được quy đổi từ quỹ thời gian giảng dạy tại Khoản 2, Điều 9 của Thông tư này cho từng chức danh quy định như sau:

a) Giảng viên: 280 giờ chuẩn;

b) Giảng viên chính: 300 giờ chuẩn;

c) Giảng viên cao cấp: 320 giờ chuẩn.

Thủ trưởng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng quy định cụ thể định mức giờ chuẩn cho từng giảng viên phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị mình nhưng không cao hơn hoặc thấp hơn 15% so với khung định mức giờ chuẩn được quy định trên đây.

3. Quy đổi thời gian thực hiện một số nhiệm vụ sau đây ra giờ chuẩn:

a) Một tiết giảng bài, hướng dẫn bài tập tình huống, thảo luận, giải đáp môn học, hướng dẫn ôn tập trên lớp được tính 1 giờ chuẩn;

b) Một tiết báo cáo chuyên đề được tính từ 1,0 đến 1,5 giờ chuẩn;

c) Một tiết hướng dẫn thực hành trên lớp được tính từ 0,5 đến 1 giờ chuẩn;

d) Hướng dẫn thực tập một ngày làm việc được tính từ 1,5 đến 2 giờ chuẩn;

đ) Hướng dẫn học viên làm khóa luận tốt nghiệp được tính từ 12 đến 15 giờ chuẩn/một khóa luận; hướng dẫn một học viên viết tiểu luận cuối khóa học được tính từ 2 đến 4 giờ chuẩn; đọc và nhận xét đánh giá 1 khóa luận tốt nghiệp của học viên được tính 4 giờ chuẩn;

e) Hướng dẫn học viên đi thực tế 1 ngày làm việc được tính từ 3 đến 4 giờ chuẩn;

f) Thủ trưởng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng căn cứ quy định khung tại các Điểm b, c, d, đ, e, Khoản 3, Điều 10 Thông tư này và tùy theo yêu cầu của từng chương trình để quy định cụ thể cho từng chức danh giảng viên.

4. Quy đổi thời gian thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn khác ra giờ chuẩn:

a) Soạn đề kiểm tra, đề thi:

- Một đề kiểm tra, đề thi viết kèm theo đáp án được tính từ 1 đến 1,5 giờ chuẩn;

- Một đề kiểm tra, đề thi trắc nghiệm kèm theo đáp án được tính từ 1,5 đến 2 giờ chuẩn;

- Một đề kiểm tra, đề thi vấn đáp kèm theo đáp án được tính từ 1 đến 1,5 giờ chuẩn.

b) Coi kiểm tra, coi thi: 1 giờ được tính 0,5 giờ chuẩn.

c) Chấm kiểm tra, chấm thi:

- Giảng viên mỗi lượt chấm 4 đến 6 bài kiểm tra viết, thi viết được tính 1 giờ chuẩn;

- Giảng viên mỗi lượt chấm 8 đến 10 bài kiểm tra trắc nghiệm, thi trắc nghiệm được tính 1 giờ chuẩn;

- Giảng viên chấm kiểm tra, thi vấn đáp, thực hành 1 học viên được tính 0,5 giờ chuẩn;

- Chủ tịch Hội đồng thi, chấm khóa luận 1 buổi được tính 2 giờ chuẩn; Phó Chủ tịch Hội đồng và Thư ký Hội đồng 1 buổi được tính 1 giờ chuẩn.

d) Căn cứ các quy định trên đây, Thủ trưởng cơ sở đào tạo, bồi dưỡng quy đổi cụ thể thời gian soạn đề kiểm tra, đề thi; chấm kiểm tra, chấm thi ra giờ chuẩn đối với từng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho sát hợp với yêu cầu của từng chương trình và điều kiện thực tế.

1

Nguồn: Wikipedia. Bách khoa toàn thư mở

2 Như trên

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn