Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Một số vấn đề thực tiến trong việc áp dụng Thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản

Tác giả : Th.s Nguyễn Thị Hoài An - Gv. Khoa Nhà nước và Pháp luật
File đính kèm: Không có

Luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được Quốc hội khoá 12, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Trước khi luật này được ban hành, chính sách điều tiết đối với cá nhân có thu nhập của Việt Nam đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau như Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất. Các văn bản này đã bộc lộ nhiều nhược điểm như: bỏ sót nhiều khoản thu nhập chịu thuế, phân biệt thu nhập chịu thuế của người Việt Nam với người nước ngoài trong đó người nước ngoài chịu mức thuế thấp hơn người Việt Nam đối với cùng một thu nhập; coi hộ kinh doanh cá thể và người kinh doanh độc lập, người có tài sản cho thuế là doanh nghiệp và chịu thuế như doanh nghiệp,….Riêng đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, luật đã áp dụng thuế suất đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất nhiều mức thuế đối với các chủ thể chuyển quyền và đối với mỗi loại đất khác nhau một cách không thống nhất và chưa phù hợp. Cụ thể là, thuế suất áp dụng thuế suất toàn phần đối với đất ở là 4%, đất nông nghiệp là 2% và cùng là hoạt động chuyển quyền sử dụng đất này nhưng mức thuế ấp đối với doanh nghiệp là 28%. Mức điều tiết về thuế còn mang tính bình quân. Các chính sách thuế hiện hành nói chung là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và mức thuế được đánh giá là cao so với các nước trong khu vực... Luật thuế TNCN ra đời với mục tiêu là: nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế, phân phối lại thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; góp phần hạn chế sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội; giúp nhà nước dần dần nắm được thông tin về thu nhập cá nhân trong lộ trình minh bạch hoá thu nhập của cá nhân, kiểm soát được cơ quan chi trả thu nhập; tăng thu ngân sách Nhà nước; đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập dân cư để khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. Ban hành luật thuế TNCN cũng để hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và hội nhập quốc tế. Sau một thời gian phát huy tác dụng, Luật thuế TNCN được đánh giá là một trong những đạo luật có tính khoa học, có giá trị điều chỉnh cao; đã tiếp cận được dần với chuẩn mực và thông lệ quốc tế; cơ bản đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra khi xây dựng luật. Riêng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, việc áp dụng cách tính thuế và mức thuế phù hợp đã động viên tích cực người chuyển nhượng nộp thuế do họ phải chịu mức thuế thấp và nhất quán hơn so với Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất, hạn chế dần việc chuyển nhượng “ngầm” nên cũng đồng thời tăng thu ngân sách Nhà nước và góp phần quan trọng minh bạch hoá thị trường bất động sản. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật thuế TNCN - đặc biệt là đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản cũng còn một số vấn đề cần lưu tâm. Thứ nhất, việc áp dụng cách tính thuế chưa thống nhất tại một số cơ quan thuế. Theo Luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn thi hành, có hai cách tính thuế đối với chuyển nhượng bất động sản là: Doanh thu (giá bán) (X) Diện tích chuyển nhượng (x) Thuế suất 2% (nếu người chuyển nhượng không xác định được thu nhập chịu thuế); hoặc Thu nhập chịu thuế (X) Diện tích chuyển nhượng (x) thuế suất 25% (nếu người chuyển nhượng chứng minh được thu nhập chịu thuế). Theo hướng dẫn tại thông tư 02/2010/TT-BTC Bộ Tài chính ban hành mới đây, người chuyển nhượng bất động sản tự kê khai, tự xác định mức thuế suất và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ kê khai. Chỉ các trường hợp chuyển nhượng mà người nộp thuế chứng minh được giá mua - bán và các chi phí liên quan, đồng thời xuất trình được đầy đủ hóa đơn, chứng từ mới áp dụng thuế suất 25% tính trên chênh lệch giá mua - bán. Trường hợp người nộp thuế kê khai giá mua và chi phí liên quan nhưng không có đầy đủ hóa đơn, chứng từ chứng minh giá mua và chi phí hoặc có kèm theo hóa đơn, chứng từ nhưng qua kiểm tra cơ quan thuế phát hiện có hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ thì vẫn áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng. Như vậy, nếu chứng minh được thu nhập chịu thuế thông qua giấy tờ hợp pháp, hợp lệ, người chuyển nhượng sẽ được cơ quan thuế áp dụng cách tính thuế 25% trên thu nhập chịu thuế. Nếu người chuyển nhượng chứng minh được việc chuyển không có thu nhập do giá bán thấp hơn hoặc bằng giá mua vào thì không phải nộp thuế. Tuy nhiên, cách tính thuế phổ biến hiện nay vẫn là tính thuế trên doanh thu (giá bán). Lý do là hoặc do người chuyển nhượng không hiểu biết, không được cán bộ thuế giải thích; hoặc do cán bộ thuế không muốn áp dụng cách tính thuế trên thu nhập chịu thuế … nên người chuyển nhượng BĐS phải chịu thiệt. Thứ hai, nhiều trường hợp lách thuế mà nhà nước chưa quản lý được. Quy định của Luật Thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS là khá thông thoáng, góp phần làm thị trường BĐS sôi động. Nhưng trên thực tế thì không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng này để lách luật, trốn thuế. Các chiêu lách luật thuế TNCN đối với chuyển nhượng BĐS hiện nay có thể kể đến là: Nhận nuôi con nuôi để trốn thuế. Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN quy định: “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN. Các quy định pháp lý hiện hành như Bộ luật dân sự 2005, Luật Hôn nhân và gia đình 2000, nghị định 158/2005NĐ-CP….đều có quy định cụ thể đối với việc nuôi con nuôi. Lợi dụng các quy định thông thoáng này, người chuyển nhượng có thể làm thủ tục nhận nuôi con nuôi trong những trường hợp phù hợp để trốn thuế. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng thì các đối tượng lại làm thủ tục chấm dứt việc nuôi con nuôi. Dựa vào quy định miễn thuế đối với chuyển nhượng BĐS là tài tản duy nhất. Luật Thuế TNCN quy định: Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng BĐS tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở - đặc biệt là đối với việc chuyển nhượng xảy ra ở địa bàn các tỉnh khác nhau. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Các bên hạ giá chuyển nhượng trong hợp đồng. Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Thực tế trên thị trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán, nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế. Và để được cơ quan nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá UBND tỉnh, TP quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế. Các bên cố ý chuyển nhượng lòng vòng. Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN (đã nói trên, những người có quan hệ thích thuộc với nhau thì được miễn thuế TNCN. Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế. Để tránh những trường hợp nói trên cần có một hệ thống các giải pháp hợp lý và đồng bộ. Trước hết các cơ quan Nhà nước trong đó có cơ quan thuế phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật thuế TNCN đến rộng rãi các tầng lớp nhân dân để giúp họ nắm vững các quy định của pháp luật, thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Việc định giá đất của Nhà nước phải “ sát với giá thị trường” như các quy định của Luật đất đai 2003 để làm cơ sở tính thuế không quá chênh lệch với thị trường tự do. Các cơ quan Nhà nước cũng phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cá nhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành tài nguyên - môi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân. Từ đó, chống được sự man khai là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng BĐS để được miễn thuế. Người nộp thuế phải có ý thức tôn trọng pháp luật, hiểu biết pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời có ý thức đóng thuế từ thu nhập hợp pháp của mình, bảo đảm “ích nước lợi nhà”./.
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn