Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Phân biệt một số khái niệm trong công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và xử lý VBQLNN

Tác giả : Th.s Trần Duy Rô Nin - Giảng viên khoa QLNN
File đính kèm: Không có

Trong công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) thì các khái niệm “sửa đổi”, “bổ sung”, “thay thế”, “huỷ bỏ”, “bãi bỏ”, “đình chỉ việc thi hành” rất hay sử dụng. Khi ban hành VBQPPL, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của VBQPPL do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới; hoặc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử lý đối với VBQPPL trái pháp luật, không còn phù hợp thì cũng áp dụng một trong các hình thức xử lý trên. Đây là các khái niệm rất gần nhau, tuy nhiên giữa chúng có sự khác nhau về bản chất. Trên thực tiễn có không ít trường hợp sử dụng chưa chính xác các khái niệm này. Điều 9, Luật ban hành VBQPPL năm 2008 quy định: “VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng VBQPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Điều 11, Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 cũng quy định: “VBQPPL do HĐND, UBND ban hành chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ bằng văn bản của chính HĐND, UBND đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền”. Tại điều 27 đến điều 30 của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật và khoản 4, Mục III, Thông tư số 01/2004/TT-BTP ngày 16/6/2004 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL hướng dẫn việc đề xuất hướng xử lý nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra như sau: - Đề xuất hình thức sửa đổi trong trường hợp văn bản được ban hành đúng thẩm quyền nhưng có một phần nội dung không phù hợp với nội dung văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và cần phải có quy định khác thay thế nội dung đó. - Đề xuất hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp nội dung đó trái với nội dung của văn bản mới được ban hành là cơ sở pháp lý của văn bản được kiểm tra mà không thuộc trường hợp cần đề xuất sửa đổi. - Đề xuất hình thức huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ nội dung của văn bản trong trường hợp toàn bộ hoặc một phần văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật ngay từ thời điểm ban hành văn bản đó. - Đề xuất hình thức đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản trong trường hợp nội dung sai trái đó nếu chưa được sửa đổi, bãi bỏ, huỷ bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. - Trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, chúng ta có thể phân biệt các khái niệm “sửa đổi”, “bổ sung”, “bãi bỏ” “huỷ bỏ”, “thay thế”, “đình chỉ việc thi hành” VBQPPL qua những điểm cơ bản sau: * Thứ nhất, hình thức “sửa đổi”: Việc sửa đổi văn bản áp dụng trong trường hợp tại thời điểm ban hành thì văn bản đó đúng thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung, có nội dung phù hợp với các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, với tình hình kinh tế - xã hội địa phương. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì có một số nội dung của văn bản không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và cần phải có quy định khác thay các nội dung không còn phù hợp đó. Sau khi sửa đổi thì văn bản bị sửa đổi vẫn tiếp tục có hiệu lực, chỉ có những điều, khoản bị sửa đổi là hết hiệu lực và được thay bằng các quy định mới của văn bản sửa đổi. Văn bản sửa đổi phải xác định rõ điều, khoản, nội dung trong văn bản bị sửa đổi. Thời điểm có hiệu lực thi hành của văn bản sửa đổi phải đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 51 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND (trên thực tiễn một số huyện, xã quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản sửa đổi trùng với văn bản bị sửa đổi là không chính xác). Cơ quan có thẩm quyền sửa đổi văn bản là cơ quan đã ban hành văn bản đó. * Thứ hai, hình thức “bổ sung”: Áp dụng trong trường hợp VBQPPL phù hợp với VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương, tuy nhiên, nội dung của văn bản chưa đầy đủ, rõ ràng, chưa toàn diện... nên cần thiết phải có quy định thêm để cho việc quy định trong VBQPPL được rõ ràng, toàn diện hơn, hiệu quả thi hành cao hơn. Cơ quan có thẩm quyền “bổ sung” là cơ quan đã ban hành VBQPPL đó. Khác với hình thức “sửa đổi” là thay một số quy định cũ bằng quy định mới do không còn phù hợp, thì hình thức “bổ sung” không làm mất đi bất cứ quy định nào của văn bản bị bổ sung, mà thêm vào một số quy định cho toàn diện hơn. Khái niệm “sửa đổi” và “bổ sung” thường hay đi liền với nhau, tuy nhiên cần phân biệt khi nào thì dùng khái niệm nào, khi nào có thể dùng cả 2 khái niệm (trường hợp chỉ “sửa đổi”, “bổ sung” hoặc vừa “sửa đổi”, vừa “bổ sung”). * Thứ ba, hình thức “bãi bỏ”: Việc bãi bỏ văn bản (một phần hoặc toàn bộ) áp dụng trong trường hợp văn bản bị bãi bỏ có nội dung không còn phù hợp với văn bản pháp luật mới được ban hành của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc tình hình thực tiễn địa phương. Cũng giống như hình thức “sửa đổi”, “bổ sung” là tại thời điểm ban hành, văn bản đó vẫn bảo đảm phù hợp về thẩm quyền nội dung và hình thức văn bản, chỉ khi có văn bản mới của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc tình hình có thay đổi thì nó không còn phù hợp nữa. Tuy nhiên, “bãi bỏ” áp dụng trong trường hợp ta có thể áp dụng trực tiếp văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên mới được ban hành hoặc không cần thiết phải ban hành văn bản mới để sửa đổi, bổ sung những nội dung không còn phù hợp nữa. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP thì văn bản bãi bỏ VBQPPL là văn bản cá biệt (chứ không phải là VBQPPL). Cơ quan có thẩm quyền bãi bỏ văn bản là cơ quan đã ban hành văn bản đó hoặc cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền (như Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền bãi bỏ VBQPPL của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND có thẩm quyền bãi bỏ VBQPPL của UBND cấp dưới trực tiếp) theo Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. * Thứ tư, hình thức “thay thế”: Là việc ban hành VBQPPL mới để thay VBQPPL cũ do đa số hoặc toàn bộ nội dung văn bản đó không còn phù hợp với VBQPPL mới được ban hành có hiệu lực pháp lý cao hơn hoặc không còn phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương. Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản thay thế là cơ quan đã ban hành VBQPPL đó. Cần phân biệt việc “thay thế” với hình thức “sửa đổi” văn bản: Việc ban hành văn bản “thay thế” khi không thể sửa đổi VBQPPL được, vì do đa số nội dung văn bản không còn phù hợp nên nếu ban hành văn bản sửa đổi thì nội dung sửa đổi rất nhiều, làm “rối”, “nát” văn bản bị sửa đổi, việc theo dõi, đối chiếu nội dung nào còn hiệu lực, hết hiệu lực khó khăn. Còn trong trường hợp toàn bộ nội dung VBQPPL không còn phù hợp thì phải ban hành văn bản mới để thay thế. * Thứ năm, hình thức “huỷ bỏ”: Huỷ bỏ văn bản (một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản) áp dụng trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ văn bản đó được ban hành trái thẩm quyền về hình thức, thẩm quyền về nội dung hoặc trái với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn ngay từ thời điểm ban hành văn bản đó. Hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏ văn bản là văn bản bị huỷ bỏ không phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm ban hành. Tuy nhiên, trên thực tiễn, thường là chỉ khi thực hiện một thời gian thì cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc chính cơ quan đã ban hành văn bản đó mới phát hiện ra rằng văn bản được ban hành là trái pháp luật. Do vậy, đồng thời với việc ra quyết định huỷ bỏ VBQPPL, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đề ra các biện pháp khắc phục hậu quả do việc thi hành văn bản trái pháp luật đã gây ra, cũng như xác định trách nhiệm (kỷ luật, dân sự, hình sự) đối với cơ quan, người có trách nhiệm trong việc tham mưu, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản trong trường hợp cơ quan, người đó có lỗi. Cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ văn bản trái pháp luật là cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật hoặc cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP. * Thứ sáu, hình thức “đình chỉ việc thi hành”: Đình chỉ việc thi hành (một phần hoặc toàn bộ văn bản) áp dụng đối với văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, mà nội dung sai trái đó nếu chưa được sửa đổi, bãi bỏ, huỷ bỏ kịp thời và nếu tiếp tục thực hiện thì có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Khác với các hình thức xử lý khác, đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản không làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản, quy định bị đình chỉ, mà chỉ làm ngưng hiệu lực pháp lý của nó cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan, người có thẩm quyền. Đây như là một “biện pháp khẩn cấp tạm thời” để làm nhưng hiệu lực pháp lý của các quy định trái pháp luật. Sau khi đình chỉ việc thi hành văn bản, tuỳ theo tính chất, mức độ sai trái của văn bản, cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng một trong các biện pháp xử lý đối với văn bản trái pháp luật. Việc phân biệt các khái niệm trong công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật giúp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng nhận diện và sử dụng chính xác nội hàm các khái niệm để đảm bảo tính hợp pháp, hợp lý và nâng cao hiệu quả ban hành, áp dụng pháp luật trên thực tiễn./.
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn