Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Tìm hiểu về chính quyền cấp xã qua các thời kỳ

Tác giả : Nguyễn Thị Lan - PTK Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ công hòa, đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến hàng ngàn năm, xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân đế quốc kéo dài gần 100 năm trên lãnh thổ nước ta. Từ đó đến nay nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và chính quyền cấp xã - cấp chính quyền nhỏ nhất, gần dân nhất nói riêng. Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh mồng 2 thàng 9, chúng tôi xin giới thiệu khái quát quá trình hình thành và phát triển của chính quyền cấp xã qua các thời kỳ cùng bạn đọc. Thời kỳ từ 1945 đến 1954. Để có cơ sở pháp lý cho tổ chức chính quyền địa phương, chỉ vài tháng sau khi đọc tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành Sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77. Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính ở xã, huyện, tỉnh, kỳ. Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 về tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính thành phố, khu phố. Theo 2 Sắc lệnh này, chính quyền địa phương có 4 cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó cấp tỉnh và cấp xã là 2 cấp chính quyền hoàn chỉnh có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, còn cấp kỳ và cấp huyện chỉ có Ủy ban hành chính. Chính quyền xã gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã, Hội đồng nhân dân do cử tri xã bầu ra có từ 15-25 hội viên chính thức và 5-7 hội viên dự khuyết; có quyền quyết định những vấn đề ở xã, nhưng có những vấn đề phải được Ủy ban hành chính cấp huyện, tỉnh chuẩn y; còn Ủy ban hành chính xã do Hội đồng nhân dân xã bầu trong số các hội viên Hội đồng nhân dân, số lượng thành viên là 5 ủy viên chính thức ( 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 thư ký, 1 thủ quỹ, 1 ủy viên) và 2 ủy viên dự khuyết; Ủy ban hành chính xã có nhiệm vụ thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, triệu tập các kỳ họp hội đồng nhân dân xã và giải quyết các công việc trong xã. Khác với địa bàn nông thôn, chính quyền ở thành phố được tổ chức thành 2 cấp là cấp thành phố và cấp khu phố, trong đó cấp thành phố là cấp chính quyền hoàn chỉnh, còn cấp khu phố chỉ có Ủy ban hành chính. Ủy ban hành chính khu phố do cư tri trong khu phố trực tiếp bầu gồm có 3 ủy vên chính thức ( 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 thư ký) và 2 ủy viên dự khuyết; Riêng ở thành phố Hà Nội được bầu 5 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết; ủy ban hành chính khu phố có trách nhiệm thi hành mệnh lệnh của cấp trên, Nghị quyết Hội đồng nhân dân thành phố và giải quyết các công việc trên địa bàn. Đến ngày 09 tháng 11 năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (gọi tắt là Hiến pháp 1946), đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Theo Hiến pháp 1946, tổ chức chính quyền địa phương mỗi cấp nói chung và cấp xã nói riêng về cơ bản vẫn như sắc lệnh 63 và Sắc lệnh 77. Thời kỳ từ 1954 đến 1975( ở miền bắc). Thời kỳ này là đất nước còn tạm thời bị chia cắt thành 2 miền có nhiệm vụ khác nhau: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền nam. Để phù hợp với tình hình mới, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1959 và sau đó ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương làm cơ sở pháp lý cho việc kiện toàn chính quyền địa phương. Các đơn vị hành chính lúc này được phân định: Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố chia thành các khu phố (Các thành phố có thể chia thành khu phố ở trong thành và huyện ở ngoài thành). Theo quy định trên cấp bộ lú này không còn nữa nhưng lại tổ có Khu tự trị. Các khu tự trị chia thành tỉnh; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Mỗi đơn vị hành chính đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, Ủy ban hành chính cấp nào do Hội đồng nhân dân cấp đó bầu ra. So với trước tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương có nhiều thay đổi: - Xác định rõ địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương ( vừa thay mặt cho nhân dân địa phương, vừa thay mặt cho nhà nước ở địa phương); Uỷ ban hành chính là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, đồng thời là cơ quan hành chính của Nhà nước ở địa phương; - Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là cơ sở pháp lý chung cho tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương không phân biệt nông thôn hay thành phố; hạn chế, thu hẹp những vấn đề chính quyền cấp trên phê chuẩn những quyết định của cấp dưới( trừ những vấn đề quan trọng như phê chuẩn kết quả bầu cử hay bãi miễn…); - Số lượng thành viên của của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương được bổ sung tăng lên, trong đó Hội đồng nhân dân cấp xã được bầu từ 20-30 đại biểu chính thức; Ủy ban hành chính cấp xã từ 5-7 người ( xã miền núi có nhiều dân tộc từ 7-9 người); - Nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chính quyền mở rộng, cụ thể ở cấp xã được quy định như sau: + Hội đồng nhân dân khu phố quyết định các chủ trương và biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá trong khu phố do thành phố giao cho; quyết định việc xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá và xã hội của cấp khu phố; xét duyệt dự trù và quyết toán chi tiêu của khu phố. Hội đồng nhân dân xã, thị trấn quyết định kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá và những sự nghiệp lợi ích công cộng của xã, thị trấn; xét duyệt dự toán và phê chuẩn quyết toán ngân sách của xã, thị trấn; ban hành những quy định về trật tự trị an, về vệ sinh chung của xã, thị trấn. + Uỷ ban hành chính xã và thị trấn: Chấp hành kế hoạch kinh tế, văn hoá và ngân sách của xã, thị trấn; Giúp các hợp tác xã xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất; đôn đốc giám sát các hợp tác xã và công dân thực hiện mọi nghĩa vụ đối với Nhà nước; đình chỉ việc thi hành những nghị quyết trái pháp luật của hợp tác xã, nhưng phải báo ngay lên cấp trên trực tiếp để quyết định; quản lý hệ thống tiểu thuỷ nông, các đường giao thông của xã; quản lý công tác bưu điện và truyền thanh; thu thuế, thu nợ, thu mua cho Nhà nước; quản lý chợ, bến đò; đôn đốc việc thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của ngân hàng; lãnh đạo việc củng cố và phát triển các hợp tác xã vay mượn, quỹ tín dụng; quản lý tài sản công cộng; xây dựng trường phổ thông; quản lý các lớp mẫu giáo, lớp vỡ lòng; lãnh đạo việc phát triển các nhà giữ trẻ, vườn trẻ; quản lý các trạm y tế, nhà hộ sinh và các sự nghiệp lợi ích công cộng; quản lý công tác văn hoá, thông tin, thể dục thể thao; quản lý lao động và công tác cứu tế và xã hội; quản lý công tác hộ tịch; quản lý các công tác khác do cấp trên giao cho( đối với khu phố còn có các nhiệm vụ cụ thể phù hợp với đô thị). Thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm 1992. Sau ngày miền nam giải phóng, nước nhà thống nhất, Quốc hội quyết định bỏ khu tự trị,đổi tên nước… Để có cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phù hợp với tình hình mới, Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1980, quy định các đơn vị hành chính ở nước ta là: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Trên cơ sở Hiến pháp, năm 1983 Quốc hội ban hành luật tổ chức HĐND và UBND. Theo quy định trên chính quyền địa phương lúc này chỉ có 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã (cấp xã bao gồm xã, phường, thị trấn); vị trí pháp lý của của các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương cơ bản vẫn giữ nguyên, Ủy ban hành chính được đổi thành Ủy ban nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được tăng cường hơn trước nhiều, riêng cấp xã được Luật quy định: - Hội đồng nhân dân: được bầu từ 15-45 đại biểu (tùy theo dân số, vùng, miền), nhiệm kỳ là 2 năm, thực hiện các chủ trương, chính sách và công tác của Nhà nước ở địa phương; quyết định các biện pháp giúp đỡ và giám sát các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế tập thể khác về các mặt xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân phối, chấp hành các chế độ, thể lệ tài chính, giá cả và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước; xây dựng, bảo dưỡng và quản lý đường giao thông, các cơ sở văn hoá, thông tin, giáo dục, y tế, xã hội, phân phối, lưu thông, dịch vụ ở địa phương; bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa ; bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương; vận động và giúp đỡ nông dân cá thể, người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác tiến lên con đường làm ăn tập thể; xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ nếp sống lạc hậu, bài trừ mê tín, dị đoan. - Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, số lượng từ 7-9 người ( 1 chủ tịch, 1-2 phó chủ tịch, 1 ủy viên thư ký, 3-5 ủy viên khác phụ trách quân sự; giao thông, thủy lợi; làm trưởng ban chuyên môn hoặc phụ trách các thôn , bản); có thường trực Ủy ban nhân dân ( gồm chủ tịch, các phó chủ tịch, ủy viên thư ký); có các ban, trạm chuyên môn giúp Uỷ ban Nhân dân( 5 ban, 2 trạm): ban kinh tế - kế hoạch; ban tài chính; ban văn hoá - xã hội; ban công an xã; ban quân sự; ban thanh tra; trạm y tế; trạm bưu điện; nhiệm vụ quyền hạn của ủy ban nhân dân cấp xã không được quy định riêng mà thực hiện các nhiệm vụ luật xác định chung cho Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, năm 1989 Quốc hội ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay thế Luật 1983. Theo luật mới số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã từ 15-35, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm, thành lập ban thư ký hội đồng nhân dân cấp xã; còn Ủy ban nhân dân thì cơ bản không thay đổi. Thời kỳ từ năm 1992 cho đến nay. Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5, ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thay luật 1989. Luật mới quy định Hội đồng nhân dân cấp xã có từ 19-25 đại biểu, nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm; không có Thường trực Hội đồng như cấp tỉnh và huyện mà chỉ có Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân cấp xã từ 5-7 người, không được tổ chức các cơ quan chuyên môn. Sau khi Hiến pháp 1992 được bổ sung, sửa đổi một số điều cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà nước trong giai đoạn mới, Quốc hội khóa 11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 dã ban hành luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Theo các văn bản trên, tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã được quy định cụ thể như sau; Hội đồng nhân dân xấp xã có số lượng đại biểu tối thiểu là 15 ( xã dưới 1000 dân) và tối đa không quá 35; được tổ chức Thường trực Hội đồng nhân dân ( gồm Chủ tịch và Phó chủ tịch); nhiệm vụ quyền hạn được quy định cụ thể phù hợp với từng địa bàn nông thôn, thành thị, hải đảo. Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, có số lượng từ 3- 5 thành viên, giúp Uy ban nhân dân cấp xã có các công chức xã ( 7 công chức hoạt động chuyên trách về các lĩnh vực: quân sự, công an, văn phòng- thống kê, địa chính- xây dựng, tư pháp- hộ tịch, tài chính- kế toán, văn hóa xã hội), ngoài ra còn có một số cán bộ không chuyên trách giúp việc. Một vài nhận xét thay cho lời kết luận: nhìn lại chặng đường 65 năm qua, ta thấy chính quyền cấp xã trong thời kỳ, hoàn cảnh nào cũng được xây dựng và củng cố để có khả năng làm tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn, bảo đảm cho chính quyền nhà nước vững mạnh từ cấp cơ sở. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã là cơ sở của hệ thống nền hành chính quốc gia làm cho bộ máy quản lý nhà nước thông suốt từ Trung ương tới cơ sở có hiệu lực và hiệu quả cao. Chính quyền cấp xã là một bộ phận trong trong bộ máy chính quyền nhà nước, nó có tính liên tục và ổn định để thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, nhà nước. Xuất phát từ vị trí, chức năng, nhiệm vụ quan trọng của chính quyền cấp xã, cho nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền cơ sở ngày càng gọn, nhẹ, tinh giản, hoạt động có hiệu lực, hiểu quả, bảo đảm thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước ở địa bàn dân cư./. Tài liệu tham khảo: - Các bản hiến pháp: 1946,1959, 1980, 1992; - Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1962, 1983,1989,1994,2003; - Luật bầu cử đại biểu HĐND các cấp năn 1962, 1983, 1989, 1994, 2003; - Quyết định 112/ HĐBT ngày 15-10-1981 về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chính quyền cấp xã. - Một số văn bản quy phạm pháp luật khác.
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn