Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Góp phần thực hiện chính sách “Đại đoàn kết dân tộc” thông qua việc sửa đổi Luật Quốc tịch.

Tác giả : Phạm Trung - Trưởng khoa QLNN
File đính kèm: Không có

Theo quan điểm của Đảng và nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã xác định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước khác…” (Nghị quyết số 36/NQ-TƯ ngày 26/3/2004 của BCT về công tác đôi với người Việt Nam ở nước ngoài). Hiện nay, theo số liệu của Bộ ngoại giao thì có khoảng 3.600.000 người Việt Nam (bao gồm các thế hệ) đang sinh sống định cư ở nước ngoài (báo điện tử 7/2009). Trong số này không ít người có nguyện vọng trở về Việt Nam sinh sống hoặc đầu tư nhưng vẫn muốn giữ quốc tịch nước ngoài (02 quốc tịch). Nhưng do quy định cứng theo nguyên tắc 1 quốc tịch (Điều 3 Luật quốc tịch năm 1998), nên việc thực hiện chính sách trên của Đảng và nhà nước gặp rất nhiều khó khăn. Để tháo gỡ vướng mắc trên, ngày 13/11/2008 Quốc hội khóa 12, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam (sửa đổi), theo hướng “mềm dẻo” hơn cho phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Những điểm mới đó là: Thứ nhất: Vẫn giữ nguyên tắc một quốc tịch nhưng mềm dẻo hơn. Điều 3 của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”, ngoài ra còn có một số trượng hợp ngoại lệ có thể có 2 quốc tịch, nhưng ngoại lệ này là rất hạn chế (cụ thể tại khoản 1 Điều 30 quy định trẻ em là công dân Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi vẫn giữ quốc tịch Việt Nam; khoản 3 Điều 20 quy định nếu được Chủ tịch nước cho phép thì người xin nhập quốc tịch Việt Nam được giữ quốc tịch nước ngoài). Trên thực tế, những trường hợp công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài (tức là có từ 2 quốc tịch trở lên) không phải chỉ hạn chế trong 2 trường hợp nêu trên. Những công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhập quốc tịch nước ngoài có phải thôi quốc tịch Việt Nam hay không là do pháp luật của nước sở tại quy định mà không phụ thuộc vào pháp luật Việt Nam. Đối với những nước không theo chính sách một quốc tịch cứng thì việc công dân Việt Nam nhập quốc tịch đó không buộc phải thôi quốc tịch Việt Nam. Ngoài ra, do có sự xung đột pháp luật về quốc tịch giữa Việt Nam và các nước trong vấn đề xác định quốc tịch nện có nhiều trường hợp trẻ em sịnh ra ở nước ngoài vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch nước ngoài và trong hầu hết các trường hợp cha mẹ lựa chọn quốc tịch nước ngoài cho các trẻ em đó đều không làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, các trẻ em này cũng có 2 quốc tịch do nguyên tắc huyết thống trong luật quốc tịch Việt Nam. Điều 4 luật quốc tịch 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp luật này có quy định khác”. Điểm mới của điều luật này ở chỗ, tuy vẫn giữ nguyên tắc 1 quốc tịch nhưng mềm dẻo hơn như: - Mở rộng những trường hợp ngoại lệ theo đó công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài. Những trường hợp ngoại lệ có thể có 2 quốc tịch là những trường hợp được Chủ tịch nước cho phép giữ quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 19); được trở lại quốc tịch Việt Nam (khoản 5 Điều 23); trường hợp quốc tịch của trẻ em là con nuôi (Điều 37); và trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài, kể cả những người đã nhập quốc tịch nước ngoài mà vẫn có nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam. - Khoản 3 Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”. Đây là quy định mới và rất thực tế so với luật quốc tịch năm 1998. Bởi vì, trong khoảng 3.600.000 đang sinh sống và định cư ở nước ngoài, tuy chưa có thống kê nhưng biết chắc rằng trong số họ có rất nhiều người mang quốc tịch Việt Nam vì Luật quốc tịch Việt Nam xác định quốc tịch của cá nhân chủ yếu là theo nguyên tắc huyết thống. Trong khi đó, có rất nhiều người trong số họ đang có quốc tịch nước sở tại do khi nhập quốc tịch nước ngoài, họ không xin thôi quốc tịch Việt Nam hoặc khi sinh ra trên lãnh thổ nước ngoài những người này có quốc tịch nước ngoài theo nguyên tắc nơi sinh nhưng họ không làm thủ tục thôi quốc tịch Việt Nam. Quy định như trên là giải pháp một mặt trong một thời gian nhất định xác định rõ những người còn có quốc tịch Việt Nam. Mặt khác, Nhà nước ta đang và sẽ tiếp tục có những chính sách cụ thể cho công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài khi về nước được hưởng một sổ quyền như công dân Việt Nam ở trong nước, như miễn thị thực nhập, xuất cảnh, mua nhà ở… đồng thời công tác quản lý nhà nước về quản lý hộ tịch, quản lý công dân, cấp hộ chiếu, cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam cũng thuận lợi và chặt chẽ hơn. Thứ hai: Giải quyết nhập quốc tịch Việt Nam đối với người không quốc tịch đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên đến trước ngày Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực (Điều 22). Do nước ta có chung đường biên giới đất liền với 3 nước láng giềng, lại trải qua nhiều năm chiến tranh nên việc di cư tự do qua biên giới đã diễn ra dễ dàng và kéo dài dẫn đến số dân không quốc tịch hoặc không rõ quốc tịch cư trú trên lãnh thổ nước ta khá nhiều, chủ yếu tập trung ở một số tỉnh thành phố phía Nam và Tây Nguyên. Trải qua nhiều năm cư trú, làm ăn, sinh sống ổn định trên lãnh thổ nước ta, đến nay số cư dân này đã thực sự hòa nhập vào cộng đồng người Việt về mọi mặt đồi sống: sản xuất, sinh hoạt, học tập, hôn nhân…Nghề nghiệp chủ yếu của họ là làm ruộng, làm rẫy, một số ít kinh doanh buôn bán nhỏ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý những người này cũng như con cháu của họ chưa được hưởng quy chế công dân Việt Nam, gây rất nhiều khó khăn cho chính quyền địa phương các cấp. Từ năm 2003 đến nay, theo đề nghị của UBND tỉnh Gia Lai, Chính phủ đã cho phép thực hiện thí điểm đăng ký hộ tịch để xác định quốc tịch cho số dân này, kết quả, chỉ riêng tỉnh Gia Lai trên 2000 người đã được cấp quốc tịch Việt Nam. Bây giờ, Điều 22 quy định: “Người không quốc tịch mà không có đầy đủ các giấy tờ về thân nhân, nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổViệt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật nay có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do chính phủ quy định”. Đây là cơ sở pháp lý, một mặt nhà nước ta đảm bảo thực hiện được nguyên tắc mỗi cá nhân đều có quốc tịch, nguyên tắc hạn chế tình trạng không quốc tịch, góp phần quản lý trật tự xã hội của nhà nước tốt hơn. Mặt khác còn là cơ sở cho việc giải quyết tiếp số dân di cư tự do dọc biên giới với Lào của các tỉnh: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An; Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum… Ngoài ra, Luật Quốc tịch 2008 còn thể hiện một số điểm mới cơ bản khác như: - Làm rõ một số khái niêm như: “Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Đây là một cụm từ được sử dụng nhiều trong Luật Quốc tịch Việt Nam nhưng các luật trước đây chưa giải thích rõ ràng, gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng luật. Điều 3 Luật năm 2008 giải thích rõ: “Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. - Giải quyết Quốc tịch của trẻ em sinh ra có cha, mẹ là công dân Việt Nam. Đây là vấn đề rất phức tạp hiện nay. Khoản 2 Điều 17 Luật năm 1998 quy định: “Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha, mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con”. Tuy nhiên, trên thực tế nảy sinh vấn đề, nếu tại thời điểm đăng ký khai sinh cho con mà cha, mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch thì đứa trẻ sẽ mang quốc tịch của cha hay mẹ. Nhằm tháo gỡ vướng mắc này Luật năm 2008 đã bổ sung quy định: “Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha, mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam”. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ em, hạn chế việc để trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam rơi vào tình trạng không quốc tịch. - Vấn đề trở lại Quốc tịch Việt Nam (Điều 23), Luật năm 2008 đã quy định mở rộng thêm một số trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam, đó là: Thực hiện đầu tư tại Việt Nam hoặc đã thôi Quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập Quốc tịch nước ngoài. Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những người gốc Việt Nam quay trở lại đầu tư về Việt Nam và muốn hưởng những ưu đãi đầu tư như đối với công dân Việt Nam. Đồng thời cũng giảI quyết được những vướng mắc hiện nay là nhiều trường hợp đã xin thôi quốc tịch Việt Nam nhưng lại không được nhập Quốc tịch nước ngoài… Đoàn kết là sức mạnh, trước lúc Bác đi xa, trong di chúc của Người để lại cho con cháu mai sau rằng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”. Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 ra đời thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam 1998 là thực sự góp phần thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc đó./.
Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn