Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

MỘT ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ NGUYÊN TẮC KẾT HỢP GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO GIẢNG DẠY MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ NHẰM ĐẠT HIỆU QUẢ CAO NHẤT

Tác giả : Th.s Lương Văn Vỹ - PTK Lý luận Mác-Lênin,Tư tưởng Hồ Chí Minh
File đính kèm: Không có

Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tác cơ bản trong lý luận nhận thức nói chung và giảng dạy lý luận trong trường chính trị nói riêng. Tại sao phải như vậy? Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn nó vừa là vấn đề nhận thức luận, vừa là phương pháp luận khoa học- phương pháp duy vật biện chứng, giữa hai mặt này nó có mối quan hệ biện chứng . Lý luận là kết quả nhận thức của con người về thế giới ở trình độ cao, nó mang tính hệ thống, tính lô-gic và tính khái quát, nếu như tri thức kinh nghiệm chỉ dừng lại mối liên hệ bề ngoài không giải thích được căn nguyên sự vật, hiện tượng thì lý luận đi sâu vào bản chất , tìm ra quy luật của sự vật về sự vận động của sự vật hiện tượng. Lý luận  đóng vai trò dẫn đường, dẫn dắt chỉ đạo thực tiễn; Lý luận có khả năng dự báo, dự đoán tương lai, nó cò góp phần thúc đẩy hay kìm hãm hoạt động củ con người từ đó  giúp con người hành động đúng quy luật, tránh hành động sai quy luật, nhằm mang lại hiệu quả cao trong công việc. Để tránh những vấp váp, sự trừng phạt của thế giới thì chung ta cần nắm bắt được quy luật để biến cái “tự nó” thành cái “cho ta”. Hay như Ăng ghen chỉ rõ những quy luật của tự nhiên và xã hội nếu ta nhận thức nó sẽ trở thành cô hầu ngoan ngoãn , ngược lại không nhận thức được nó nó trở thành bà chủ tác oai tác quái [1].  Còn thực tiễn là nơi thẩm định, là nơi kiểm nghiệm lý luận đúng, sai ( Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý ); là nơi bổ sung và ngày càng hoàn thiện lý luận,  thực tiễn  đặt ra những nhu cầu , nhiệm vụ, phương hướng phát triển cho lý luận .
Nếu chúng ta không thực hiện tốt nguyên tắc trên thi trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động kinh tế -xã hội sẽ dẫn đên hiệu quả thấp; Bởi vì thực tiễn  không có lý luận soi đường thì thực tiễn đó phải mò mẫm, nó như đêm đen trong rừng rậm, giữa biển khơi muôn trùng mà không có la bàn để xác định phương hướng, và trong mọi hoạt động chúng ta phải trả giá quá đắt; và lịch sử sẽ phát triển chậm “như rùa” . Còn ngược lại nếu lý luận đó không gắn, không đi từ thực tiễn, thậm chí quá xa thực tiễn (Trừ khoa học dự báo) thì lý luận đó cũng chỉ là lý thuyết suông.
Hồ Chí Minh đã tưng chỉ rõ “lý luận không gắn thực tiễn thì lý luận đó chỉ là lý luận suông , thực tiễn không được lý luận dẫn đường thì thực tiễn đó là thực tiễn mù quáng”
Chắc hẳn mọi người trong chúng ta đều biết chủ nghĩa Mác – lê Nin ra đời đó là sự kết hợp giữa lý luận khoa học và cách mạng với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế . Mác- Ăng ghen trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của nhân loại , phát triển trong điều kiện mới  đưa ra lý luận khoa học từ đó làm ngọn cờ dẫn đường cho cách mạng thế giới phát triển từ Cách mạng tháng 10 Nga đến sự lớn mạnh hình thành cả hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác đó là bộ môn Kinh tế chính trị , Bản thân bộ phận  này ra đời cũng là một sự kết hợp: Mác đã kế thừa có chọn lọc những “nhân tố hợp lý” từ những tư tưởng kinh tế cổ điển Anh, Pháp, kết hợp với việc Các-Mác nghiên cứu tình hình thực tiễn nền kinh tế các nước Anh, Đức và một số nước châu Âu lúc bấy giờ từ đó hình thành nên lý luận kinh tế chính trị Mác- Lê nin . Trong giảng dạy môn Kinh tế chính trị (KTCT) luôn tuân thủ nguyên tắc trên, nghĩa là sau khi trình bày những nguyên lý kinh tế thì chúng ta cân minh họa băng thực tiễn nền kinh tế hiện đang vận động, thực tiễn ở đây là hoạt động của con người trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội , bao gồm phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế, và nguyên nhân của thực trạng; chỉ ra những mâu thuẩn, những vấn đề đặt ra cần giải quyết, từ đó nêu ra các giải pháp. Lưu ý tùy theo nội dung mà có thể kết hợp cả lý luận và thực tiễn khi trình bày một vấn đề, tức là phân tích tổng hợp, kết luận vấn đề.
Đối tương học viên của trường chính trị tỉnh là những cán bộ lãnh đạo Đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân thuộc địa bàn huyện, thành thị, phường, xã, thị trấn là nơi gắn liền với thực tiễn cơ sở sản xuất và đời sống, nơi biến đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước thành hiện thực sinh động do vậy trong nội dung chuyển tải của người thầy vừa phải có lý luận vừa phỉ có thực tiễn. Bài giảng càng có hiệu quả và sức thuyết phục cao khi nó có lý luận sâu sắc và thực tiễn vừa điển hình vừa phong phú, yêu cầu đối với  người học là phải biết việc cấp trên và thạo việc cấp mình do vậy họ vừa phải phải hiểu cái chung nhưng vừa phải nắm chắc chức năng nhiệm vụ của mình, đặc biệt là kỹ năng nghiệp vụ.
Để thực hiện tốt nguyên tắc lý luận phải đi đôi với thực tiễn trong giảng day bộ môn kinh tế chính trị trong trường chính trị tỉnh thì cần những điều kiện gì ? Và làm như thế nào để đạt kết quả cao nhất ?
Thực ra kết quả day học nó phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố hàng đầu  đó là thầy và  trò, trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin trao đổi xung quanh vai trò người thầy. Để giảng dạy tốt thì người giảng viên cần  phải  có các điều kiện cần và đủ sau :
Thứ nhất là, nắm chắc nội dung chuyên môn, nghĩa là phải hiểu được đối tượng bộ môn, nắm một cách hệ thống nội dung bộ môn, có phương pháp sư phạm tốt, có phương pháp giảng dạy tích cực và đặc biêt người thầy phải có năng khiếu sư phạm.
Thứ hai là,  Tùy theo  đối tượng học viên mà từ đó xác định phương pháp phù hợp; Phương pháp ở đây bao gồm phương pháp trình bày và phương pháp giảng dạy.Nghĩa là minh sẽ nói cho ai ? Về cái gì ? Trình độ học vấn người học như thế nào ? Họ cần những cái gì ? Học viên là người miền núi hay đồng bằng, thành phố? Nếu học viên có trình độ học vấn cao thì có thể kết hợp phương pháp trình bày theo diễn dịch (phương pháp đi từ cáí chung đến cái riêng) kết hợp với phương pháp quy nạp; nếu học  viên có trình độ thấp thì chủ yêu sử dụng phương pháp quy nạp (tức đi từ cáí riêng (cái cụ thể) đến cái chung (cái phổ biến). Hơn nữa trong phương pháp giảng dạy cần lựa chọn phương  pháp thích hợp, ngoài phương pháp truyền thống là thuyết trình thì chúng ta nên tích cực sử dụng phương pháp dạy học tích cực. Ví dụ như những bài trong phần kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa thì chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với phương pháp phỏng vấn nhanh; Trong phần kinh tế chính trị thời kỳ quá độ cần kết hợp phương pháp truyền thống với phương pháp vấn đáp, phương pháp sàng lọc bằng phiếu, có thể sử dụng phương pháp chuyên gia. Thực tế nêu lên một vấn đề là phương pháp thì vô cùng phong phú và luôn phải sáng tạo.
Thứ ba là, ngườì giảng viên phải có kiến thức về thực tiễn tốt  nghĩa là người thầy phải khá am tường về thực tiễn đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội; lưu ý thực tiễn hiện tại cũng như thực tiễn đang vận động. Hàng năm trong tổng kết giảng dạy của trường ta khi đánh giá về công tác giảng dạy thường có nhận định “ …đa số giảng viên có kiến thức lý luận khá sâu sắc…mặt hạn chế là phần liên hệ thực tế còn chưa nhiều…” đó là chưa kể đến một vài  giảng viên còn quá nặng về lý thuyết, còn thiên về “ Tầm chương trích cú” theo lối kinh viện, sách vở. Trước tình hình đó trong quy định của nhà trường các giảng viên trẻ mới về trường có chế độ đi thực tế cơ sở hay quy chế bắt  buộc đối với mọi giảng viên là hàng năm có nghĩa vụ đi nghiên cứu thực tế cơ sở- xem đây là nhiệm vụ bắt buộc và một trong những tiêu chuẩn để đánh giá thi đua hàng năm.
Khi giảng day môn KTCT thì người giảng viên  cần  phải chú ý các điểm sau
Một là, khi trình bày  những vấn đề lý luận thì theo đối tượng người học mà có cách trình bày tương thích ví dụ người học có trình độ không cao thì ta có thể nói nội dung cơ bản một cách dễ hiểu nhất, không nề hà câu chữ  miễm là phải đảm bảo nội dung khoa học, chinh xác hay nói cách khác học lý luận Mác- lê nin là học phương pháp luận, học linh hồn sống của vấn đề .
Hai là, khi giảng dạy nội dung KTCT , người thầy phải vận dụng lý luận để đánh giá thực trạng, găn giữa lý luân, đường lối của Đảng ta với thực tiễn kinh tế xem xét các hiện tượng và quá tình kinh tế phải đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể, yếu tố  khách quan, chủ quan, trong nước và ngoài nước, và phải xem xét chúng trong trạng thái vận động .
Ví dụ: về vấn đề sở hữu ở nước ta,  trong đó chế độ sở hữu bao gồm các quyền như quyền sở hữu, quyền quản lý kinh doanh (quyền sử dụng), quyền thực hiện lợi ích kinh tế. Trong các quyền đó lại được tập hợp tành 2 nhóm quyền quan trọng đó là quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh (quyền sử dụng).
Hai nhóm quyền đó có thể thống nhất ở một chủ thể, cũng có thể phân chia, tách biệt tương đối ở những chủ thể khác nhau.
Tại sao có thể tách biệt ? Ở nước ta quá độ lên CNXH từ 1 nước nông nghiệp kém phát triển, vì vậy có thời kỳ chế độ công hữu là thiêng liêng . Sau hoà bình lập lại 1954, từ 1957 tiến hành cải tạo XHCN, đến năm 1960 có 90% chế độ công hữu; Thời kỳ 1964-1975 là chiến tranh thì thực hiện công hữu là có sức sống; Nhưng đến những năm 1980 thì vấn đề sở hữu đặt ra gay gắt; Từ khoán chui 1981 ở Đồ Sơn - Hải Phòng, sau đó là Vĩnh Phú; Rồi khoán 100 đến 1987 thực hiện khoán 10 ... Bắt đầu từ vấn đề đất đai của ai? Sử dụng đất đai như thế nào? Tiếp theo là NĐ 217-CP về trao quyền tự chủ cho xí nghiệp quốc doanh; Người ta hỏi vốn của ai? Đây không chỉ là vấn đề lý thuyết, mà là vấn đề máu và nước mắt? Đây là vấn đề đòi hỏi các nhà lý luận phải trả lời.
Trong hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh, điều hành tập trung cao độ là cần thiết và đã mang lại hiệu quả nhất định v.v…
Trong lý thuyết thì ở Liên xô, Trung quốc thời kỳ đó không để ý đến tách 2 quyền ; Việt nam đến đại hội VII trước thực tế nền kinh tế trì trệ, các nhà nghiên cứu kinh tế đặt ra vấn đề ; Và đại hội VII đã đưa ra và tranh luận làm cơ sở khoa học phát triển quan điểm : Quyền quản lý và quyền sở hữu tách ra khỏi một chủ thể .
Lý luận về sự tách biệt tương đối giữa 2 nhóm quyền trên đây là cơ sở khoa học, mở ra bình diện mới, hướng đi mới cho việc vận dụng quan hệ sở hữu vào thực tiễn.
Đây cũng là luận điểm chính để tìm giải pháp cải cách cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
Ba là , khi trình bày những vấn đề của KTCT thì giảng viên  cần trình bày quá trình nhận thức về kinh tế là quá trình không ngừng  sự bổ sung , hoàn thiện. Bởi vì .các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-lê nin cũng đã từng căn dặn học thuyết của các ông là một học thuyết mở nghĩa là nó sẽ được bổ sung hoàn thiện cùng lịch sử- hậu thế . Các- Mác đã từng chỉ rõ “ Học thuyết của chúng tôi không phải là một bộ kinh thánh tôn giáo, mà là kim chỉ nam cho hành động ” và kế thừa tư tưởng đó Ăng- ghen nói rõ “Học thuyết của chúng tôi chỉ là khởi điểm của sự tìm tòi sau này và phương pháp của sự tìm tòi ấy. Chúng tôi không kê sẵn những công thức bếp núc của tương lai ” 3* - cuộc sống vận động và nền kinh tế cũng luôn  biến đổi, lý thuyết về kinh tế phải không ngừng được bổ sung, hoàn thiện.
Ví dụ khi nói về nền kinh tế thị trường trong CNXH thì lúc đầu trong giới lý luận chưa ai đề cập , Vào năm 1986, 1987 chuyên gia kinh tế Trung Quốc sang Liên Xô nghiên cứu đi đến kết luận rằng có thể dùng kinh tế hàng hoá – Kinh tế thị trường trong CNXH; vào những năm 1980 thì thế giới có thực trạng là nền kinh tế thị trường lâu đời của chủ nghĩa tư bản đã đến lúc bế tắc, còn nền kinh tế có kế hoạch của các nước XHCN cũng mất động lực và tỏ ra kém hiệu quả trong thực tế. Trong bối cảnh đó ở Trung quốc nêu mô hình “ Kinh tế thị trường  xã hội chủ nghĩa ”.  Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  VII ,  trong “ cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ’’ đã khẳn định   “ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” 4*. Đến  Đại hội đại đại biểu toàn quốc lần thứ IX  của Đảng ( 4-2001) đã chỉ rõ “ … thực hiện nhất quán  và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ”.5*
Thực trạng kinh tế thị trường ở Việt Nam đó là nền kinh tế thị trường ở trình độ sơ khai, đang trong quá trình tiếp tục chuyển đổi, đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội vừa có thách thức .
Bốn là , khi trình bảy những vấn đề kinh tế chính trị chúng ta  phải trình bày những dự báo dài hạn, những dự báo khoa học trong kinh tế là cần thiết đối với việc xây dựng chiến lược quốc gia, hoạch định kế hoạch dài hạn, xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược  sản phẩm cho doanh nghiệp. Dự báo kinh tế là cần thiết cho quốc gia, cho doanh nghiệp để cho quốc gia có chiến lược dài hạn khoa học, để cho các doanh nghiệp tránh khỏi  những trả giá quá đắt không đáng có. Bộ môn dự báo kinh tế ở nước ta đã bắt đầu xuất hiện nhưng hãy còn non trẻ , nhưng nền  kinh tế ngày càng đòi hỏi nó phát triển
Nghiên cứu nguyên lý dạy học trên nhắc chúng ta trong cuộc sống cần chống bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều, trong giảng dạy lý luận  ở trường chính trị luôn luôn gắn liền giữa lý luận và thực tiễn xem đây là vấn đề song hành với nhau như hình với bóng, là một nguyên tắc bất di bất dịch.
Trên đây là một vài ý kiến góp thêm vào hội thảo, những ý kiến của chúng tôi cũng chỉ là những suy nghĩ bước đầu chắc chắn còn rất nhiều vấn đề cần phải “ hội” và “thảo”, bàn luận mới có thể đi đến hồi kết.
Tài liệu tham khảo:
1* Các- Mác Ăng ghen tuyển tập
2* Hồ Chí Minh toàn tập , tập 52
3* Các- Mác Ăng ghen tuyển tập
4* Đảng cộng sản Việt Nam : Cương lĩnh xây dưng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb,ST, H 1991, tr.10   
5* Đảng cộng sản Việt Nam : Văn kiện ĐH ĐTQ lần thư IX, Nxb CTQG, H.2001 , trang 86
 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn