Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Di chúc của Hồ Chí Minh và công cuộc vận động, xây dựng, chỉnh đốn Đảng hôm nay.

Tác giả : Lê Văn Minh - Gv Khoa Xây dựng Đảng
File đính kèm: Không có

Đã gần 40 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, danh nhân văn hoá thế giới giã từ chúng ta. Trước khi ra đi, với bản Di chúc lịch sử Người đã để lại “muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” mà mỗi chữ, mỗi lời đã, đang và sẽ còn mãi mãi là một di sản quý báu của Đảng ta, dân tộc ta. Với tầm nhìn chiến lược, hay nói như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng “với tầm nhìn của con đại bàng trên đại ngàn hùng vĩ”, Di chúc của Bác đã đề cập đến rất nhiều những vấn đề vừa cơ bản, cốt lõi và sâu sắc, vừa hết sức thiết thực, sát hợp và cụ thể của cách mạng Việt Nam. Trong khuôn khổ của Hội thảo khoa học “Khai thác giá trị khoa học của Di chúc, vận dụng vào công tác xây dựng Đảng hiện nay”, xin được góp thêm một số suy nghĩ bước đầu về mối liên hệ hữu cơ giữa Di chúc của Bác với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hôm nay.
Như vậy, đã gần 80 mùa xuân kể từ khi Đảng ta ra đời và đảm nhận sứ mệnh lịch sử chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam qua ngần ấy thời gian đã chứng minh một sự thật, một chân lý hiển nhiên: Sự lãnh đạo của Đảng ta là nhân tố cơ bản quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nói cách khác, bài học kinh nghiệm của lịch sử Việt Nam được rút ra gần 80 năm qua là: Có Đảng lãnh đạo đất nước mới vững mạnh, cách mạng mới thành công.
Trải qua bao nhiêu năm bôn ba đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành người gieo mầm cho sự ra đời của Đảng ta. Bằng những hoạt động lý luận, thực tiễn đầy sáng tạo và bản lĩnh, Người đã tiếp thu và đưa ánh sáng Chủ nghĩa Mác Lê nin thâm nhập một cách tự giác và có tổ chức  vào Việt Nam. Bằng những đóng góp không mệt mỏi, bất chấp mọi hiểm nguy Người đã trực tiếp đưa phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX phát triển theo con đường cách mạng vô sản – con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Có thể nói, chính từ sự kết hợp nhuần nhuyễn của Chủ nghĩa Mác Lê nin với phong trào yêu nước và phong trào công nhân mà Đảng ta đã ra đời vào mùa xuân năm 1930. Điều đó cũng có nghĩa rằng, ngay từ lúc ra đời, Đảng ta đã mang trong mình một sức xuân phơi phới và Bác Hồ chính là người đã đưa sức xuân đến cho Đảng. Sức xuân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa đến cho Đảng ta được bắt đầu từ sự khẳng định của Người về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam, chấm dứt tình trạng khủng hoảng đường lối và tổ chức lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn cách mạng.
Ngay sau khi tìm thấy con đường cứu nước, cứu dân duy nhất đúng đắn, Người đã khẳng định, để đưa cách mạng đến thành công cần phải có một tổ chức tiên tiến lãnh đạo. Vì thế, từ năm 1920, tức là sau khi đã trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tích cực hoạt động chuẩn bị cả chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng ở Việt Nam. Cũng vì thế, ngay trong thời kỳ nhen nhóm ngọn lửa cách mạng, Người đã đặc biệt quan tâm vấn đề đào tạo, huấn luyện cán bộ cho cách mạng bởi theo Người: “Cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi, Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy...” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập II. Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội năm 1981, trang 189).
Cần phải nói rõ thêm, sự khẳng định đó của Bác Hồ đã có từ trước khi Đảng ta ra đời và đảm nhận sứ mệnh chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Điều lý thú là cho đến hôm nay, khi mà thập kỷ thứ nhất của thế kỷ XXI sắp kết thúc, khẳng định đó vẫn vẹn nguyên giá trị, vẫn mang tính thời sự nóng hổi. Đây cũng là điều để giải thích vì sao hiện nay khi mà toàn cầu hoá, hội nhập đã, đang là xu thế khách quan của thời đại, khi mà đất nước đã, đang đẩy mạnh đổi mới, mở cửa với cơ chế thị trường định hướng XHCN thì các thế lực phản động thù địch của cách mạng Việt Nam vẫn đang hàng ngày, hàng giờ lớn tiếng đòi chúng ta từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Tất nhiên, điều đó là không thể bởi mỗi người dân Việt Nam hôm nay đều có thể cảm nhận trực tiếp những gì mà Đảng ta đã, đang và sẽ đem lại cho đất nước, cho mỗi người trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Hơn thế nữa và hơn bao giờ hết, mỗi người dân Việt Nam chân chính hôm nay còn nhận thức sâu sắc rằng nếu từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng hay nếu Đảng  bị suy yếu và tan rã thì ngay lập tức chế độ XHCN ở nước ta sẽ bị sụp đổ, mọi thành quả mà biết bao thế hệ cha anh đã không tiếc trí tuệ, công sức và máu xương để xây dựng nên sẽ bị tiêu tan. Vì thế, nhắc lại quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng trong Di chúc, chúng ta càng thấm thía sự kiên định lập trường theo quan điểm của Người, càng thấy rõ sự cần thiết phải kiên trì con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn cũng như sự cần thiết phải đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Cũng với nhận thức sâu sắc về vai trò lãnh đạo của Đảng ta, trong Di chúc, lời dặn dò đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Trước hết nói về Đảng”. Như vậy trong tư duy của Người, Đảng là vấn đề trước hết và đó là một tư duy nhất quán từ đầu đến cuối, không hề thay đổi bất luận hoàn cảnh nào.
Vai trò lãnh đạo của Đảng là một thực tế không thể phủ nhận được bởi đó là nhu cầu khách quan của cách mạng Việt Nam. Nói một cách khác, nhu cầu đó không hề phụ thuộc ý muốn chủ quan của bất cứ ai, bất cứ lực lượng nào. Cách mạng Việt Nam cần có Đảng dẫn đường cũng như cá cần nước, cây xanh cần ánh nắng mặt trời. Vì thế, để đưa cách mạng tiến lên, trước hết chúng ta cần phải có Đảng vững mạnh.
Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là do đòi hỏi khách quan của xã hội, của cách mạng Việt Nam. Không thể đi lên chủ nghĩa xã hội được nếu không có Đảng dẫn đường, đó là một nguyên lý nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong Di chúc nói riêng. Vì thế, càng trong cơ chế thị trường, càng trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, càng cần có vai trò lãnh đạo của Đảng để chúng ta giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đi lên. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có rất nhiều những biến động “mau lẹ, phức tạp, khó lường”:
Đó là bên cạnh xu thế chung là hoà bình, hợp tác thì các thế lực thù địch vẫn đã, đang không ngừng ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam ; Đó là sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta đã đạt được thắng lợi to lớn về nhiều mặt nhưng những khuyết điểm, yếu kém vẫn còn nhiều, đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn nhưng đồng thời cũng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn đan xen nhau... Đương nhiên những thắng lợi và yếu kém đó luôn luôn gắn liền với vai trò và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng ta. Vì thế, để đủ sức đáp ứng đòi hỏi của đất nước hôm nay, Đảng cần phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện mình. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay chính là nhằm bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với đất nước, để Đảng đủ sức đưa ra những quyết định đúng đắn, xử lý kịp thời những vấn đề quan trọng, những tình huống nhạy cảm, phức tạp cả ở tầm vĩ mô và cả ở tầm vi mô. Điều đó cũng có nghĩa rằng, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay chính là sự tiếp nối, sự khẳng định tư duy nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng.
Nói về Đảng, trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề đoàn kết đã được Người đặc biệt nhấn mạnh. Đoàn kết theo Người là đoàn kết trong Đảng, đoàn kết cán bộ, đảng viên với nhân dân. Người cho rằng “đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta” và vì thế Người yêu cầu “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con người của mắt mình”.
Cần phải thấy rằng “đoàn kết” là một vấn đề xuyên suốt, nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được xuất phát từ truyền thống cố kết để dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc Việt Nam. Vì thế, với Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” đã trở thành nguyên tắc, thành phương châm ứng xử trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi của mình. Với Người, để đoàn kết được trước hết cần phải tìm được một “mẫu số chung” cho tất cả mọi người. Trong bối cảnh mất nước, mẫu số chung ấy chính là chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Ngoài ra, từ kinh nghiệm của chính cuộc đời mình và từ đặc điểm của cách mạng Việt Nam, của thời đại ngày nay, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh công nông với đội ngũ trí thức và tinh thần đoàn kết của những người cách mạng Việt Nam là  lâu dài, chân thành, thuỷ chung trên cơ sở kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh lâu dài tàn phá nặng nề, đi lên CNXH, nên nhận thức đúng đắn về con đường, bước đi của cách mạng Việt Nam là một quá trình vận động từ thấp đến cao và rất phức tạp, khó khăn. Vì thế, để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay, trước hết chúng ta cần phải đưa ra một “mẫu số chung” và “mẫu số chung”  đó chính là mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đảng ta đã khẳng định trong Cương lĩnh của mình. Tuy nhiên, chừng đó là chưa đủ bởi để tập hợp cả một dân tộc chúng ta cần phải không ngừng nâng cao nhận thức về mục tiêu lý tưởng, về đường lối quan điểm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây chính là cơ sở để xây dựng sự nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội và qua đó để bồi dưỡng, nâng cao lòng tin cùng tinh thần quyết tâm phấn đấu cho thắng lợi của công cuộc đổi mới.  
Cùng với vấn đề đoàn kết, trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh vấn đề dân chủ bởi theo Người “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình, phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng”.
Ngoài ra, một biện pháp quan trọng khác để xây dựng sự đoàn kết thống nhất của Đảng cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong Di chúc là “Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư... phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Cần thấy rằng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức phương Đông đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển, đưa vào những yêu cầu và nội dung mớí nhằm mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Với Người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư là hết sức cần thiết đối với mọi cán bộ, đảng viên vì Đảng ta là một đảng cầm quyền. Hoàn cảnh và điều kiện cầm quyền đã tạo ra cơ hội “tư túi” cho những cán bộ, đảng viên thiếu bản lĩnh, sống ích kỷ, cá nhân, thiếu lương tâm. Ngoài ra, cần  kiệm liêm chính, chí công vô tư còn là thước đo văn hoá và văn minh tiến bộ của mỗi người và của cả cộng đồng bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Một dân tộc biết cần  kiệm, biết liêm chính là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà nội năm 1995, trang 42).
Cùng với cần kiệm liêm chính thì chí công vô tư cũng là một nội dung của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Với bản chất không nghĩ đến mình, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau, “chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào”… nên chí công vô tư hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa cá nhân. Vì thế, để nâng cao đạo đức cách mạng cần phải chăm lo quét sạch chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức, trong mọi lúc, mọi nơi. Đương nhiên, chủ nghĩa cá nhân không đồng nhất với lợi ích cá nhân và vì thế, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hôm nay, cần quan tâm xây dựng sự thống nhất hài hoà giữa lợi ích chung với lợi ích riêng, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể .
Bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng được thể hiện trong Di chúc, chúng ta không thể không nhắc đến một thực trạng nhức nhối đã được Đảng ta nhiều lần đề cập như một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ hiện nay. Đó là tình trạng thoái hoá, biến chất về chính trị tư tưởng, về đạo đức lối sống; là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi ; Đó là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, là tình trạng dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm, kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm dẫn đến sự đoàn kết nhất trí ở không ít nơi còn yếu ; Đó là quan hệ giữa Đảng với nhân dân có lúc có nơi bị xói mòn do những hạn chế, yếu kém của không ít tổ chức đảng (nhất là ở cơ sở) và do một bộ phận cán bộ không nhỏ cán bộ, đảng viên yếu kém cả về phẩm chất, cả về năng lực, thiếu tính chiến đấu và một số thậm chí giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng dẫn đến bất mãn, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng ; Đó còn là hiện tượng chủ nghĩa cá nhân và bệnh cơ hội... đang diễn ra rất phức tạp và có lúc, có nơi có chiều hướng gia tăng. Rõ ràng, tất cả những hiện tượng này là hoàn toàn trái với những điều dặn dò trong Di chúc của Bác Hồ. Chính vì thế, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, học tập và quán triệt Di chúc của Người, hiện nay hơn bao giờ hết chúng ta cần ra sức phấn đấu xây dựng Đảng về mọi mặt để Đảng ta “xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Trung thành với những nguyên lý xây dựng Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong Di chúc của Người nói riêng, Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổng kết 6 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng trong những năm đổi mới và đề ra phương hướng và mục tiêu tổng quát của công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới là “Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân” (Văn kiện Đại hội X. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2006, trang 279).
Để đạt được phương hướng, mục tiêu tổng quát đó, Đại hội cũng chỉ rõ, trong thời kỳ mới chúng ta cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ và giải pháp lớn bao gồm:
1. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, hoàn thiện đường lối đổi mới và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện ;
2. Tăng cường công tác tư tưởng; rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng ;
3. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ;
4. Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị ;
5. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ ;
6. Xây dựng và củng cố tổ chức cơ sở đảng; nâng cao chất lượng đảng viên ;
7. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ;
8. Xây dựng và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân
9. Đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng.
Những nội dung nêu trên cũng chính là phương hướng, mục tiêu và giải pháp của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hôm nay. Như vậy, kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thêm một lần nữa chúng ta tiếp tục khẳng định: Di chúc của Người đã, đang và sẽ còn mãi mãi là ngọn đèn pha soi sáng cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và soi sáng sự nghiệp cách mạng của chúng ta ./.

 

 

 

 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn