Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Hội thảo khoa học

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cương lĩnh hành động đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Tác giả : Th.s Ngô Bá Cường - PT Khoa Xây dựng Đảng
File đính kèm: Không có

Trong cuộc đời vĩ đại của mình, Hồ Chí Minh đã để lại nhiều văn kiện có giá trị lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Di chúc là một trong những văn kiện đó. Trong những dòng ngắn ngủi để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Hồ Chí Minh đã thể hiện một tầm nhìn mà giờ đây vẫn khiến chúng ta phải ngỡ ngàng bởi chiều sâu khoa học và những tác động vĩ mô đối với những vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Cả cuộc đời vĩ đại của Người đã gắn liền với công cuộc cách mạng GPDT, gắn liền với việc xây dựng, giáo dục và rèn luyện Đảng ta để Đảng luôn vững mạnh, xứng đáng với sứ mệnh thiêng liêng mà dân tộc và cách mạng giao phó. Bốn mươi năm qua, những di huấn để lại cho Đảng trong Di chúc đã luôn là một động lực lớn, là bệ đỡ lý luận có tính chất cương lĩnh để Đảng ta đẩy mạnh công cuộc xây dựng chỉnh đốn hàng ngũ, tổ chức và hoạt động của mình, tiếp tục đưa cách mạng Việt Nam tiến lên giành nhiều thắng lợi mới.
Đọc kỹ những dòng thiêng liêng từ Di chúc có thể thấy, bằng một thái độ rất chân thành nhưng thẳng thắn, Hồ Chí Minh đã dự báo về một cuộc chiến đấu mới, rất khổng lồ, khó khăn và phức tạp mà Đảng phải kinh qua, phải chiến thắng. Đó là cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để mở đường cho những nhân tố mới mẽ, tốt tươi, cách mạng, tiến bộ được phát triển và trở thành sinh lực trường tồn của Đảng. Đó là cuộc đấu tranh để vượt lên chính mình, để chiến thắng chính mình, để xây dựng Đảng TSVM, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nâng cao uy tín và thanh danh, danh dự của Đảng. Thực hiện mối quan hệ máu thịt với nhân dân, thực hiện Đảng – Dân một ý chí.
Với Hồ Chí Minh, hai nguy cơ lớn đối với Đảng (đặc biệt là trong điều kiện đảng cầm quyền) là sai lầm về đường lối và suy thoái về đạo đức cách mạng là những thách thức thường trực, thậm chí những tác nhân dẫn đến hai nguy cơ đó luôn hiện hữu và sẵn sàng thâm nhập vào cơ thể của Đảng bất cứ lúc nào. Đây cũng là một cảnh báo rất nghiêm túc đối với Đảng trong điều kiện cách mạng vừa giành được chiến thắng. Đó là thời điểm căn bệnh chủ quan, duy ý chí, say sưa với thắng lợi, thái độ đòi hỏi, hưởng thụ, bệnh công thần…dễ bùng phát nhất. Kinh nghiệm của lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, dễ thường chiến thắng càng lớn thì căn bệnh này càng nặng.
Với kinh nghiệm nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh luôn xác định một cách rất dứt khoát rằng: Cách mạng trước hết phải có đảng; Đảng có vững cách mạng mới thành công. Đó là cơ sở để Hồ Chí Minh khẳng định, công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng không phải là biện pháp nhất thời hay một giải pháp tình thế mà là một nhiệm vụ tất yếu mang tính chiến lược, là công việc thường xuyên, là sự vận động tự thân của Đảng trong tiến trình cách mạng. Chính vì vậy, trong Di chúc, Người đã nói: “Việc cần làm trước tiên ”… là “ chỉnh đốn lại Đảng ”.
Có thể thấy, về phần mình, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị tâm thế cho một chuyến đi dài, một hành trình vô tận về nguồn, về điểm hội tụ những vĩ nhân của thời đại. Những gì riêng tư, đời thường đã được Người tự bạch một cách rất nhẹ nhàng, thanh thản để lên đường nhẹ tênh, đầy lạc quan. Duy nhất chỉ có một điều làm Người trăn trở nhiều đó là về Đảng và về công cuộc cách mạng Việt Nam. Đọc kỹ những dòng trong Di chúc nói về Đảng, ta thấy từ những lời vàng ngọc ấy chứa đựng một hệ thống những vấn đề rất căn cốt:
- Nói về Đảng, trước hết Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”. Truyền thống đó trước hết bắt nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước được Đảng ta không ngừng phát huy trong điều kiện lịch sử mới. Trong một văn kiện khác, Người thậm chí còn nhấn mạnh: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo ” [HCM Toàn tập, T7, Tr. 492].
Đoàn kết trong Đảng, theo nghĩa ấy chính là sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Dựa trên cơ sở giữ vững nguyên tắc tập trung - dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình để tăng cường, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Với Hồ Chí Minh, để có được sức mạnh đó, Đảng phải nghiêm túc và thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình trên cơ sở thực hiện dân chủ rộng rãi, mở rộng dân chủ nội bộ.
Trong Di chúc, Người căn dặn: “Các đồng chí từ trung ương đế các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Người nhấn mạnh: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết thống nhất của Đảng”. Theo Người việc này phải được thực hiện trong “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, phê bình và tự phê bình cần có lý có tình; chân thành, thẳng thắn, trung thực giữa những người cùng chung lý tưởng, chí hướng.
- Nói về Đảng, cũng như những trăn trở đối với công tác xây dựng Đảng, vấn đề tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh tập trung nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Có lẽ đây là vấn đề lớn và khó khăn nhất đối với Đảng, thực tế cũng là yêu cầu rất cao đối với một Đảng cầm quyền được quần chúng nhân dân tin yêu trân trọng như Đảng ta. Sở dĩ vậy mà ngay trong một đoạn ngắn của Di chúc, Hồ Chí Minh đề cập và gợi mở một hệ thống vấn đề lớn:
Thứ nhất, về đạo đức cầm quyền của Đảng.
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người hiểu rõ, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền bằng cách mạng xã hội, bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến để xác lập quyền lãnh đạo của mình. Trở thành đảng cầm quyền, Đảng phải dựa vào sức mạnh của nhân dân, công lao to lớn của nhân dân, do vậy Đảng phải sống xứng đáng với điều đó. Đạo đức cầm quyền, theo Người, là đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì Dân mà tranh đấu quên mình. Đảng và mỗi đảng viên của Đảng phải coi việc phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự, là hạnh phúc của mình. Đảng vì thế mới xứng đáng là đại biểu trung thành cho lợi ích chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chứ không phải mưu cầu lợi ích riêng cho bất cứ một người hay một nhóm người nào. Đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng, vì thế là biểu hiện tập trung sinh động nhất về đạo đức cầm quyền, về trách nhiệm xã hội, về nghĩa vụ chính trị mà Đảng phải thực hiện trước quần chúng nhân dân. Ở khía cạnh này, có thể thấy, trước khi Đảng muốn khẳng định quyền lãnh đạo một cách vững chắc, Đảng phải nêu tấm gương đạo đức trong sáng, đẹp đẽ của mình để qua đó thu phục nhân tâm, tập hợp, đoàn kết quần chúng.
Thứ hai, văn hoá cầm quyền của Đảng.
Không trực tiếp đề cập nhưng  ta có thể nhận thấy, Di chúc đã xác lập những cơ sở hình thành và phát triển “văn hoá cầm quyền”, đến danh dự, vẻ đẹp trong phẩm chất lãnh đạo của Đảng. Hãy đọc kỹ đoạn văn 57 từ (từ chỗ “Đảng ta là một Đảng cầm quyền” ..đến “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”), ta sẽ thấy Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại đến bốn lượt chữ “thật sự”. Cấu trúc văn phạm đoạn này rất đặc biệt, trong sâu thẳm của ý tứ, Hồ Chí Minh mong muốn Đảng phải thực sự trở thành một biểu tượng của hệ giá trị mới, tiến bộ, cách mạng. Đảng không chỉ là đại diện của lương tâm, trí tuệ mà Đảng còn là cái đẹp mẫu mực trong phẩm cách, trong giao tiếp, ứng xử. Văn hoá cầm quyền của Đảng, theo đó nghĩa là phải đánh thắng, phải tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cá nhân, thói đạo đức giả, thói lật lọng, mưu mánh, tráo trở trong một bộ phận của Đảng. Điều này đã được chính Hồ Chí Minh tổng kết như một chân lý, một danh dự thiêng liêng của Đảng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Do đó, tự phê bình và phê bình cần tiến hành từ trên xuống, từ dưới lên, phê bình việc chứ không phê bình người và phê bình phải thường xuyên như “soi gương rửa mặt hằng ngày”. “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.
Trong đoạn Di chúc này, chúng ta cần chú ý câu nói: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch. Phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Hồ Chí Minh, trong tính hiện thực của công tác xây dựng Đảng đã sử dụng tư duy biện chứng ở trình độ nhuần nhuyễn để khái quát thành hai nhiệm vụ, hai vị trí khác nhau trong cùng một chủ thể. Đảng vừa là người lãnh đạo (cầm quyền, nắm quyền lực), vừa là người đầy tớ (phục vụ, tuân thủ mệnh lệnh) trước nhân dân. Hoàn toàn không có ý tách rời hai vấn đề này, Hồ Chí Minh ngược lại muốn tạo ra một hợp điểm biện chứng giữa đạo đức với chính trị, giữa trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, giữa đường lối lãnh đạo của Đảng với cuộc sống thực tiễn sinh động của nhân dân. “Văn hoá cầm quyền, văn hoá Đảng”, thiết nghĩ là giải quyết tốt mối quan hệ đó.
Thứ ba, năng lực cầm quyền của Đảng.
Thâu tóm toàn bộ ý tứ của mình đối với công tác xây dựng Đảng, Di chúc muốn hướng đến quán triệt nhận thức về một vấn đề khổng lồ, đó là năng lực cầm quyền của Đảng.
Lý luận về đảng cầm quyền đều thừa nhận, Đảng cầm quyền là đảng có khả năng chi phối cơ quan hành pháp, đảng thông qua tranh cử, chiếm đa số ghế tại nghị viện và có quyền đứng ra thành lập chính phủ…Đối với Đảng ta, trở thành đảng cầm quyền không phải bằng con đường tranh cử nghị viện mà bằng cách mạng xã hội, bằng sự thừa nhận một cách tự giác của các lực lượng quần chúng, trở thành đảng cầm quyền đã là một công việc rất khó nhưng để có thể duy trì được quyền lực chính trị lại là một công việc còn khó khăn hơn.
Năng lực cầm quyền không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh chính trị hiện có, càng không phụ thuộc vào sức mạnh của ý chí (vấn đề của Đông Âu và Liên Xô đã chứng minh điều đó). Năng lực cầm quyền của Đảng, theo Hồ Chí Minh, nó được quy định bởi một hệ thống chuẩn mực, một điểm hội tụ các phẩm chất mà đối với một đảng cầm quyền như Đảng ta, tất yếu phải có:
Một là, đạo đức của Đảng
Hai là, trí tuệ của Đảng
Ba là, bản lĩnh của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, phẩm chất tiên phong lãnh đạo của Đảng trước hết là thể hiện cụ thể trên ba phương diện này. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, đây đều là những vấn đề cốt tử nhất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thông qua hệ quy chiếu này, Hồ Chí Minh muốn khẳng định rằng, năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ là những nét đẹp về khía cạnh đạo đức mà còn là sự vững mạnh về trí tuệ, sự bứt phá trong tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn, sự chắc chắn, dày dạn về bản lĩnh chính trị.
Đảng cầm quyền, theo Hồ Chí Minh từ đạo đức đến trí tuệ và bản lĩnh là một quy trình xây dựng và phát triển toàn diện. Chống suy thoái về đạo đức cách mạng phải gắn liền với chống suy yếu, tụt hậu về tư duy, trí tuệ, sự bạc nhược, yếu đuối về bản lĩnh.
Đương nhiên, đó là một công việc lớn, một cuộc chiến đấu khổng lồ mà để giành thắng lợi, Đảng cần “ phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm ”, thậm chí, Người còn khẳng định: “ cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân ”.
“Chỉnh đốn lại Đảng” đối với một đảng cầm quyền khi cách mạng chuyển sang một giai đoạn mới được Chủ tich Hồ Chí Minh coi là “việc làm trước tiên”, bởi trong suốt những năm tháng lãnh đạo cách mạng, nỗi băn khoăn lớn nhất của Người là làm sao cho Đảng luôn giữ được vai trò lãnh đạo, thể hiện rõ năng lực, đạo đức cầm quyền của mình. Làm sao để Đảng không trở thành quan liêu, xa dân, tránh được những biểu hiện thoái hoá, biến chất, mất lòng dân. Những di huấn thiêng liêng và hết sức thiết thực ấy càng trở nên đặc biệt ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
Công cuộc Đổi mới, xây dựng CNXH trên đất nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn. Điều đó đòi hỏi Đảng ta cần được xây dựng vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ mới. Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng cần được tiếp tục lãnh đạo thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt hơn nữa từ TW đến cơ sở.
Với tư cách là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An cần tiếp tục quán triệt sâu sắc những di huấn bất hủ của Người trong Di chúc, đặc biệt là những lời tâm huyết dành cho quê hương được Bác viết trong bức thư cuối cùng gửi cho Đảng bộ và nhân dân Nghệ An trước lúc lên đường về với thế giới NGƯỜI HIỀN.
Nhìn lại 40 năm thực hiện Di chúc của Người, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An vẫn còn nhiều việc phải làm, phải ra sức phấn đấu nhiều hơn nữa. Đối với công tác Xây dựng Đảng, tỉnh Đảng bộ và các cấp uỷ Đảng cần tập trung thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ. Cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết Đai hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết hội nghị BCHTW lần thứ VI( khoá X ) về công tác xây dựng Đảng. Gắn liền với các biện pháp cụ thể để thực hiện tốt cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trên quê hương của Người. Bảo đảm cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; về đạo đức, trí tuệ và bản lĩnh, bảo đảm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Tài liệu tham khảo:
- Hồ Chí Minh, toàn tập, T7, T12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005
- Hồ Chí Minh – nhà tư tưởng lỗi lạc, Gs Song Thành, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Võ Nguyên Giáp ( chủ biên ), Nxb Chính trị quốc gia, H. 2003
- Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Phạm Văn Đồng. Nxb Sự Thật, H. 1982


 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn