Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Cơ hội và thách thức đối với ngành nuôi trồng thủy sản Quỳnh Lưu khi Việt Nam gia nhập WTO

Tác giả : Th.s Nguyễn Thị Thanh Minh - Gv Khoa Kinh tế
File đính kèm: Không có

Quỳnh Lưu là một huyện có bờ biển dài 34 km, ba cửa lạch lớn và có nhiều làng cá truyền thống. Từ lâu Quỳnh Lưu đã trở thành trung tâm khai thác, nuôi trồng thuỷ sản lớn của tỉnh. Những năm gần đây, triển khai chương trình khai thác xa bờ và nuôi trồng thuỷ sản, huyện đã có hướng đi mới trong phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho người lao động vùng biển. Tuy nhiên, nuôi trồng thuỷ sản của huyện chỉ mới phát triển trong những năm gần đây nên người dân chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn đầu tư, qui mô các cơ sở nuôi thủy sản nhỏ, việc áp dụng các công nghệ mới trong nuôi thủy sản còn nhiều bất cập, là những thách thức trước yêu cầu đòi hỏi càng cao về chất lượng, ATVS thủy sản.
Nền kinh tế của Việt Nam nói chung, kinh tế thủy sản nói riêng đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Đây cũng là cơ hội rất lớn cho hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt Ngành thuỷ sản Việt Nam nói chung và ngành thuỷ sản Quỳnh Lưu nói riêng trước những thách thức không nhỏ như phải cạnh tranh gay gắt, các hàng rào thương mại như các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng khắt khe, các vụ kiện chống bán phá giá dễ xẩy ra hơn do chính sách bảo hộ của các nước lớn.
Vậy ngành NTTS huyện sẽ có những cơ hội cũng như gặp phải các thách thức gì khi Việt Nam gia nhập WTO ?
Cơ hội của ngành nuôi trồng thủy sản huyện.
Một là, Việt Nam ngày càng tham gia hội nhập sâu rộng vào các nên kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là sân chơi WTO thì cơ hội cho các sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản sẽ càng được mở rộng. Gia nhập WTO, thuỷ sản huyện sẽ có cả thị trường thế giới khổng lồ để đẩy mạnh xuất khẩu nên chắc chắn sẽ mang lại cơ hội để mở rộng thị trường, để thuỷ sản huyện thâm nhập vào thị trường thế giới, có điều kiện thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài, tranh thủ công nghệ sản xuất tiên tiến, đẩy mạnh công nghiệp hoá và tăng cường năng lực của ngành kinh tế thuỷ sản vốn dĩ còn non yếu.
Tham gia WTO, Việt Nam nói chung và huyện Quỳnh Lưu nói riêng sẽ là một đối tác bình đẳng trên thị trường thế giới, thế giới sẽ thay đổi cách nhìn với Việt Nam và hàng hoá Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp của huyện Quỳnh Lưu nói riêng sẽ có điều kiện được hưởng mức thuế suất ưu đãi khi xuất khẩu các sản phẩm thuỷ sản vào các nước là thành viên WTO, đặc biệt là các nước mà hàng thuỷ sản có khả năng thâm nhập và tiêu thụ với khối lượng lớn như: EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc… Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của huyện có thể tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị trường và đạt hiệu quả kinh doanh cao.
Hai là, khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản của huyện có cơ hội tiếp thu sự tiến bộ của khoa học công nghệ trên thế giới vào hoạt động nuôi trồng, chế biến và kinh doanh của mình. Những bước tiến nhảy vọt trong khoa học công nghệ sản xuất, chế biến các mặt hàng thuỷ sản đã tạo cho các doanh nghiệp của ngành này có thể nhanh chóng nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu. Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản của huyện có thể vượt qua những rào cản về kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm, về môi trường của các nước nhập khẩu thuỷ sản lớn như Mỹ, EU… để thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị phần, đạt giá trị xuất khẩu cao trên thị trường các nước này.
Trong môi trường WTO, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nuôi trồng, khai thác, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản có thêm nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để học hỏi kinh nghiệm phát triển sản xuất, kinh nghiệm để quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm về việc đa dạng hoá sản phẩm, kinh nghiệm tiếp cận và mở rộng thị trường. Từ những kinh nghiệm học hỏi được, họ có thể vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của huyện để nâng cao hiệu quả nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản trên phạm vi toàn ngành.
Mặt khác, thông qua hoạt động hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới, người lao động tại các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản huyện có điều kiện để tiếp nhận khoa học công nghệ tiên tiến phục vụ ngành thuỷ sản, nâng cao năng suất lao động, tạo ra các sản phẩm thuỷ sản có sức cạnh tranh và khả năng tiêu thụ lớn trên thị trường toàn cầu.
Ba là, khi gia nhập WTO thị trường vốn cũng phát triển nhanh chóng, cụ thể ngoài các cách huy động truyền thống như vay vượn gia đình, người quen, hàng xóm láng giềng… hiện đã có rất nhiều Ngân hàng thương mại ra đời với cơ chế cho vay rộng mở hơn như tại Quỳnh Lưu ngoài Ngân hàng nhà nước đã xuất hiện các Ngân hàng thương mại như Vietcombank, VPBank, Techcombank…Ngoài ra còn có các kênh huy động vốn khác như cổ phiếu... điều này làm thay đổi rất lớn trong vấn đề huy động vốn cho nuôi trồng thuỷ sản của huyện. Đây là cơ hội lớn cho việc khai thác nguồn vốn đầu tư mở rộng nuôi trồng, sản xuất, chế biên và kinh doanh thuỷ sản của huyện.
Bốn là, khi gia nhập WTO, thị trường hàng hoá thuỷ sản của huyện được mở rộng, các doanh nghiệp có điều kiện khai thác tiềm năng thị trường to lớn để thâm nhập với thuế suất hợp lý, giá cả dịch vụ đầu vào rẻ hơn. Song, điều ấy cũng đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh ngày càng khốc liệt, với sự siết chặt điều kiện xuất khẩu thuỷ sản sang nước ngoài. Do vậy chỉ trong thời gian ngắn có rất nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản xuất khẩu ra đời. Nhiều doanh nghiệp ý thức tốt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nên đã đầu tư xây mới hoặc tiếp tục nâng cấp, cải tạo hoàn thiện theo hướng mở rộng, đổi mới trang thiết bị hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật, đa dạng hoá sản phẩm.
Bên cạnh những cơ hội có được thì ngành nuôi trồng thủy sản của huyện gặp phải những thách thức sau:

Thách thức của ngành nuôi tròng thủy sản huyện
Thứ nhất, gia nhập WTO cạnh tranh về thủy sản trên thị trường ngày càng gay gắt, trong khi khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản của ta còn thấp, khả năng tự động hóa trong sản xuất chưa cao, dẫn đến giá thành một số loại sản phẩm cao hơn so với mặt hàng cùng loại của các doanh nghiệp trong nước do đó sản phẩm thuỷ sản của huyện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong nước về chủng loại, giá cả và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt ngành thuỷ sản mất dần lợi thế về nhiều mặt, trong đó đáng kể nhất là giá cả ngay tại “sân nhà”. Liệu ngành thuỷ sản của huyện có thể vượt qua khi chính thức bước vào cuộc cạnh tranh mới, gia nhập WTO chúng ta phải chấp nhận “luật chơi” chung của WTO. Hiện nay, Việt Nam chủ yếu nhập nguyên liệu thô phục vụ cho chế biến xuất khẩu, các loại sản phẩm thuỷ sản chế biến được nhập khẩu với số lượng rất hạn chế. Một phần bởi vì năng lực của ngành thuỷ sản đã được nâng cao hơn rất nhiều, đã có khả năng nhập trực tiếp nguyên liệu để chế biến các sản phẩm cao cấp xuất khẩu sang các thị trường lớn và khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU. Vì vậy hàng thuỷ sản của huyện đang phải chịu sức ép từ cạnh tranh rất lớn cả thị trường trong và ngoài nước.
Thứ hai, hàng thuỷ sản của huyện đang xuất sang các thị trường có điều kiện hơn chúng ta về công nghệ, trong khi các nhà máy chế biến thuỷ sản còn nhỏ bé, manh mún, còn yếu kém về năng lực sản xuất. Cho nên thuỷ sản huyện sẽ rơi vào thế yếu khi phải sản xuất hàng hoá với khối lượng lớn và đòi hỏi chất lượng cao. Trong đó chủ yếu là các hàng rào kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng cao. Đặc biệt AT VSTP các nước tăng cường yêu cầu khắt khe hơn là thách thức lớn trên thương trường quốc tế nên doanh nghiệp phải thường xuyên chuẩn bị để đáp ứng.
Cơ sở vật chất phục vụ cho chế biến thuỷ sản quá cũ kỹ, công nghệ sản xuất lạc hậu. Thiếu vốn phục vụ cho việc đổi mới trang thiết bị sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, chất lượng lao động trong ngành chế biến  thuỷ sản của huyện còn thấp hạn chế đến việc tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Sản phẩm chủ yếu ở dạng sơ chế không đáp ứng kịp so với xu hướng tiêu dùng hiện nay là sử dụng các sản phẩm ăn liền, có giá trị gia tăng.
Công tác đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật tuy đã được quan tâm nhưng do hạn chế về kinh phí và kinh nghiệm, nên số lượng các lớp đào tạo chưa được nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là thiếu những nhà doanh nghiệp giỏi về kinh doanh, am hiểu về luật lệ thương mại của các nước nhập khẩu cũng như những quy định của tổ chức thương mại Thế giới.
Thứ tư, ngành thuỷ sản Việt Nam nói chung và ngành thuỷ sản Quỳnh Lưu nói riêng tham gia hội nhập khu vực và gia nhập WTO trong điều kiện thiếu môi trường kinh doanh ổn định, chưa có một hành lang pháp lý thuận lợi. Các chính sách, cơ chế, chỉ thị, nghị quyết để điều hành và quản lý các hoạt động của ngành thuỷ sản hay thay đổi, chưa theo sát những đòi hỏi của yêu cầu sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản trong và ngoài nước. Các văn bản chính sách còn thiếu đồng bộ, đôi lúc không rõ ràng và thậm chí có thể hiếu theo nhiều nghĩa khiến việc chấp hành chính sách nhà nước của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, do chịu ảnh hưởng của cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ngành thuỷ sản rất thụ động với chính sách phát triển ngành, chậm đổi mới công nghệ, thiếu thông tin thị trường… nên việc tận dụng được các cơ hội kinh doanh là không nhiều.
Thứ năm, hiện nay những khuyến cáo về số lượng lô hàng vi phạm tiêu chuẩn gia tăng, và gần đây là sự cảnh báo của Nhật Bản sẽ kiểm soát 100% hàng thuỷ sản của Việt Nam xuất sang Nhật; các nước khách hàng nhập hàng thuỷ sản của Việt Nam cũng có những hành động tương tự. Về phía Mỹ, hàng của các nước xuất sang Mỹ, khi bị từ chối nhập đều được đưa lên danh sách công khai hàng tháng của cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm (FDA) của Mỹ.
Nhìn chung, khi gia nhập WTO, ngành thuỷ sản của huyện nói chung và các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản nói riêng sẽ đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi và cũng không ít những khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ rằng, những thuận lợi và lợi thế so sánh của ngành thuỷ sản khi gia nhập WTO chủ yếu thuộc về các nhân tố khách quan, trong khi những khó khăn thách thức mà các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu và toàn ngành thuỷ sản phải đương đầu lại thuộc về các nhân tố chủ quan bắt nguồn từ bản thân các doanh nghiệp thuỷ sản và bản thân nền kinh tế huyện.
Do vậy, để hội nhập đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu thuỷ sản và toàn ngành thuỷ sản cần biết tận dụng mọi cơ hội thuận lợi và lợi thế so sánh của huyện, của ngành thuỷ sản, của chính bản thân các doanh nghiệp, vượt qua những khó khăn thách thức để đạt hiệu quả cao trong hoạt động xuất khẩu, đạt hiệu quả cao trong công tác hội nhập, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn, là ngành kinh tế có tiềm năng và hiệu quả xuất khẩu cao./.

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn