Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Những vấn đề đang đặt ra ở các trang trại của huyện Nghĩa Đàn hiện nay

Tác giả : Th.s Nguyễn văn Thành - PT Khoa Kinh tế
File đính kèm: Không có

Bước sang thập kỷ 80 cho đến nay, Đảng và Nhà nước đã thực hiện những chủ trương, biện pháp nhất quán theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển. Qua các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, X Đảng ta thừa nhận sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân. Khẳng định đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, không tư nhân hoá đồng thời giao quyền sử dụng đất đai lâu dài cho hộ nông dân. Đây là bước đột phá thúc đẩy kinh tế hộ và kinh tế trang trai phát triển.
 Với những chủ trương, đường lối đổi mới kinh tế nông nghiệp đúng đắn, kinh tế trang trại - một hình thức tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp đã ra đời và phát triển nhanh chóng cả về quy mô và số lượng, cùng với kinh tế hộ đang tác động trực tiếp làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội huyện Nghĩa Đàn.
 Kết quả điều tra của UBND huyện Nghĩa Đàn cho thấy, tính đến tháng 8 năm 2008 thì tổng số trang trại trên toàn huyện là 115 trang trại. Trong đó trang trại trồng trọt là 73 trang trại, trang trại lâm nghiệp là 10, trang trại chăn nuôi là 10, trang trại thuỷ sản là 18, trang trại tổng hợp là 4.
  Tổng số vốn sản xuất kinh doanh của các trang trại là 38.688 triệu đồng, bình quân 1 trang trại 336,4 triệu đồng. Trong đó vốn tự có là 29.402 triệu đồng, chiếm 76%, các loại vốn vay là 9.256 triệu đồng chiếm 24%. Vốn đầu tư cho các lĩnh vực không đồng đều, vốn đầu tư cho nuôi trồng thuỷ sản, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày chiếm tỷ trọng lớn, vốn đầu tư cho trồng mía và sản xuất lương thực ít hơn. Doanh thu năm 2007 đạt 12.609 triệu đồng, bình quân 1 trang trại đạt doanh thu 109,6 triệu đồng.
 Trong sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được trong sản xuất kinh doanh. Tổng diện tích đất mà các trang trại huyện Nghĩa Đàn theo điều tra là 1051,34 ha. Bình quân 1 trang trại là 9,1 ha. Trong đó đất nông nghiệp là 406,11 ha, chiếm 38,66%, đất lâm nghiệp 541,24 ha chiếm 51,48%, đất nuôi trồng thuỷ sản 104,09 ha chiếm 9,9%. Xét theo loại hình cây trồng thì trang trại lâm nghiệp là lớn nhất, bình quân 54,12 ha, trang trại trồng mía (cây hàng năm là nhỏ nhất), bình quân là 4,7 ha.
 Về nguồn gốc đất đai sử  dụng ở các trang trại cũng đa dạng. Đất giao theo Nghị định 02/CP thuộc về các trang trại lâm nghiệp, đất giao theo quyết định 1586  của UBND Tỉnh về giao khoán vườn cây cho các hộ nông lâm trường và Nghị định 01/CP chủ yếu là trang trại trồng cây lâu năm và cây ăn quả. Đất giao theo Nghị định 64/CP chủ yếu là các trang trại trồng cây hàng năm và nuôi trồng thuỷ sản. Đất đai các trang trại đang sử dụng đã được giao quyền sử dụng ổn định, lâu dài.
 Theo lĩnh vực sản xuất thì số lượng trang trại trồng cây hàng năm là lớn nhất, có 47 trang trại chiếm 40,8% nằm trên 14 xã thuộc huyện Nghĩa Đàn. Xã nhiều nhất là Nghĩa Bình có 11 trang trại, xã Nghĩa Tiến 7 trang trại, các xã chỉ có 1 trang trại là Nghĩa Lâm, Nghĩa Tân, Nghĩa Liên. Tiếp theo là trang trại trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả gồm 18 trang trại, tập trung ở 7 xã, trang trại thuỷ sản có 18 trang trại tập trung ở 10 xã, có số lượng ít nhất là trang trại hỗn hợp, chỉ có 4 trang trại tập trung trong 4 xã.
 Về quy mô đất đai, số trang trại có quy mô từ 2 - 3 ha là 40 trang trại, chiếm 39%, quy mô từ 3- 5 ha có 48 trang trại chiếm 11,7 %. Số trang trại có quy mô từ 5-10 ha có 19 trang trại chiếm 16,5%. Số trang trại có quy mô từ 10-20 ha có 5 trang trại chiếm 4,3%, trang trại có quy mô trên 20 ha có 3 trang trại chiếm 3,6%. Như vậy chứng tỏ trang trại ở Nghĩa Đàn tập trung đa số là các trang trại từ 3- 10 ha.
 Về tình hình lao động và tiền công, tổng số lao động của các trang trại là 532 người, trong đó lao động thời vụ là 161 người chiếm 30,3%, lao động gia đình là 371 người chiếm 69,7%. Bình quân lao động trên 1 trang trại là 4,62 (0,51 lao động ha).
 Về trình độ học vấn của chủ trang trại, số có trình độ lớp 10 là 47 chiếm 40,8% trên  lớp 10 là 68 người, trong đó trình độ đại học là 5 người chiếm 4,3%, trình độ trung cấp, sơ cấp là 12 người, chiếm 10,4%.
 Các trang trại thuê lao động thường xuyên tiền công là 850.000đ/tháng, thuê bình quân theo ngày là 28.000 đồng/ ngày. Ngoài ra các chủ trang trại còn có chế độ nuôi ăn 1-2 bữa, trong những dịp cao điểm có thể thưởng thêm trong những dịp mùa vụ thu hoạch…
 Sự phát triển của các trang trại ở Nghĩa Đàn thời gian qua đã mang lại nhiều kết quả đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương như tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình chủ trang trại, sử dụng ngày càng có hiệu quả đất đai, phát triển nền nông nghiệp hàng hoá… Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả ấy, sự phát triển của kinh tế trang trại ở đây đang đặt ra nhiều vấn đề khó khăn, bức bách cần sớm được nghiên cứu, giải quyết kịp thời, đó là:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã có hệ thống chủ trương chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, song các ngành chức năng chưa cụ thể hoá chính sách để khuyến khích các chủ trang trại yên tâm sản xuất.
 Thứ hai, chưa có quy hoạch tổng thể về sản xuất nông nghiệp nên các trang trại phát triển một cách manh mún, phân tán, nhỏ lẻ, chưa gắn sản xuất tập trung với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản.
 Thứ ba, huyện và các xã chưa kịp thời rút kinh nghiệm để nhân ra diện rộng các trang trại kinh doanh có hiệu quả mà còn dừng lại ở dạng mô hình.
 Thứ tư, việc giao đất cho chủ trang trại chưa tiến hành kịp thời, thời hạn cho thuê đất còn quá ngắn so với đầu tư để phát triển kinh tế trang trại. Việc dồn điền đổi thửa theo chỉ thị 02 của tỉnh uỷ đã tiến hành nhưng số thửa/hộ còn cao, diện tích thửa còn nhỏ.
 Thứ năm, trình độ kỹ thuật của chủ trang trại và người lao động còn thấp, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo.
 Thứ sáu, thị trường tiêu thụ nông sản của các trang trại hạn chế và không ổn định nên các trang trại không yên tâm phát triển sản xuất.
 Thứ bảy, nguồn vốn chủ yếu dựa vào vốn tự có của chủ trang trại, nhiều người có kiến thức, có ý chí làm giàu nhưng chưa đủ điều kiện về vốn nên không thể làm trang trại được, trong khi việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng gặp rất nhiều khó khăn nên đầu tư cho phát trang trại thấp.
 Thứ tám, các trang trại chưa quan tâm nhiều đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật như giống, tưới tiêu, bảo quản, chế biến… nên năng suất, chất lượng sản xuất của trang trại chưa cao.
 Thứ chín, vấn đề môi trường của trang trại chưa được quan tâm đúng mức, còn để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là các trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, các xưởng chế biến cao su.
 Để tiếp tục phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo ở huyện Nghĩa Đàn thiết nghĩ cần thực hiện những giải cơ bản sau đây:
 Một là, thực hiện tốt quy hoạch đất đai và chính sách giao đất, giao rừng cho chủ trang trại, trong đó tập trung vào hai nội dung chủ yếu là quy hoạch vùng phát triển  trang trại và tiến hành giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho trang trại. Để thực hiện tốt việc này các xã cần tập trung kiểm tra rà soát, nắm vững quỹ đất hiện đang sử dụng cho nông, lâm nghiệp, quỹ đất trống, đồi núi trọc, mặt nước có khả năng khai thác đưa vào sử dụng trong nông, lâm, thuỷ sản theo phương thức trang trại cùng với việc xác định phương hướng phát triển các loại cây trồng vật nuôi phù hợp với lợi thế đất đai khí hậu của từng vùng và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
 Hai là, phát huy nguồn vốn nội lực trong dân cư, kết hợp sự hỗ trợ đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế trang trại. Nhà nước cần hỗ trợ nguồn vốn từ ngân hàng chính sách cho việc phát triển kinh tế trang trại, đầu tư xây dựng công trình hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin v.v..  Tuy nhiên, trong điều kiện ngân sách còn eo hẹp cần kết hợp huy động nguồn lực của trang trại với phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”.  Ngân hàng cần tăng vốn cho vay cho trang trại cao hơn hộ nông dân, chủ yếu là vốn dài hạn, áp dụng lãi suất hợp lý trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác các chủ trang trại cần có phương án kinh doanh cụ thể để ngân hàng có cơ sở cho vay. Địa phương cần tích cực mở rộng hợp tác, liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác để gọi vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển.
 Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của trang trại. Trong đó cần tập trung vào nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật của chủ trang trại. Trước mắt, thông qua tổng kết, tổ chức tham quan các trang trại quản lý kinh doanh giỏi để học tập lẫn nhau giữa các chủ trang trại và trung tâm khuyến nông, hội nông dân tổ chức tập huấn, đào tạo bồi dưỡng chủ trang trại.
 Bốn là, phát triển công nghiệp chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế trang trại. Trong quá trình phát triển nền nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp chế biến ngày nay có vai trò hết sức quan trọng. Để thúc đẩy công nghiệp chế biến ở Nghĩa Đàn trong những năm trước mắt và lâu dài trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế trước hết cần coi trọng phát triển kinh tế trang trại theo hướng hình thành những vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng sản phẩm nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến. Đồng thời phải lựa chọn hướng phát triển công nghiệp chế biến phù hợp với từng vùng, từng loại hình nông sản nguyên liệu và thị trường tiêu thụ. Mặt khác cần hình thành sự liên kết giữa những chủ thể kinh doanh gồm các trang trại, công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà mặt hàng nông sản Việt nam đang bị cạnh trang gay gắt với nông sản của các nước trong khu vực và trên thế giới thì để nền nông nghiệp  phát triển được  rất cần có vai trò hỗ trợ, giúp đõ và quan tâm sâu sát của nhà nước, đặc biệt là việc nhà nước tổ chức hệ thống kênh lưu thông nông sản, trong đó có các doanh nghiệp thương mại làm nhiệm vụ xuất khẩu nông sản ở vùng chuyên canh lớn. Qua đó mở rộng rhị trường tiêu thụ sản phẩm, đồng thời nắm bắt thông tin thị trường trong, ngoài nước để định hướng sản xuất kinh doanh của trang trại. Tạo điều kiện cho các chủ trang trại tham gia các hội chợ triển lãm giới thiệu sản phẩm, mở rộng giao lưu trong và ngoài nước/.
 
 
 

 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn