Liên kết
 
 
 
 
Thống kê
 
 
 
 
Nội san nhà trường

Một số suy nghĩ khi nghiên cứu Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008

Tác giả : Phạm Trung - Trưởng Khoa Quản lý nhà nước
File đính kèm: Không có

Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là công cụ rất quan trọng của Nhà nước để quản lý xã hội. Nhìn lại lịch sử thì từ khi ta dành được chính quyền Nhà nước cho đến nay, giai đoạn đầu do nhiều yếu tố khác nhau nên trên lĩnh vực văn bản pháp luật quy định về văn bản chưa được quan tâm đúng mức. Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về văn bản là điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữ ngày 28/9/1960 do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng thay mặt HĐBT ký, văn bản này tồn tại một thời gian dài từ năm 1960 đến năm 1996 (36 năm) mà không hề có sự thay đổi bổ sung mặc dù xã hội đã có rất nhiều sự đổi thay. Nhưng từ năm 1996 lại nay, do chúng ta nhận thức được đầy đủ hơn trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên Đảng và Nhà nước ta ban hành và sửa đổi 1 loạt văn bản QPPL quy định về văn bản. Năm 1996, Quốc hội Khoá X kỳ họp thứ 10 ban hành luật ban hành VBQPPL. Ngày 16/12/2002, tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII, Quốc hội đã ban hành luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật ban hành VBQPPL năm 1996. Ngày 03/12/2004, Quốc hội khoá XI Kỳ họp thứ 6 thông qua luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND. Và tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII ngày 03/6/2008, Quốc hội lại ban hành luật BHQPPL có hiệu lực vào ngày 01/01/2009. Như vậy, từ năm 1996 đến năm 2008, trong phạm vi thời gian không dài (12 năm), Quốc hội – cơ quan có quyền lực Nhà nước cao nhất đã ban hành và sửa đổi 4 luật ban hành VBQPPL điều chỉnh hành vi ban hành VBQPPL của cả bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương.
NHỮNG NỘI DUNG MỚI CƠ BẢN CỦA LUẬT BAN HÀNH VBQPPL NĂM 2008
Thứ nhất:  Luật sửa đổi thu gọn lại các loại VBQPPL. Nhằm đơn giản hoá VBQPPL, Điều 2 của Luật quy định một số cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chỉ ban hành VBQPPL dưới một hình thức văn bản. Theo đó, Chính phủ chỉ ban hành VBQPPL dưới một hình thức - Nghị định thay vì Nghị quyết và nghị định trước đây; thủ tướng Chính phủ chỉ ban hành VBQPPL dưới một hình thức - Quyết định, thay vì chỉ thị và quyết định; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Chánh án toà án nhân dân tối cao (TANDTC) chỉ ban hành văn bản dưới một hình thức - thông tư thay vì quyết định, chỉ thị, thông tư trước đây. Tuy nhiên, để phù hợp với Luật kiểm toán, Luật bổ sung thẩm quyền của Tổng kiểm toán Nhà nước trong việc ban hành VBQPPL dưới hình thức Quyết định. Cụ thể, hệ thống VBQPPL bao gồm:
- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
- Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
- Nghị định của Chính phủ.
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC, thông tư của Chánh án TANDTC.
- Thông tư của Viện trưởng VKSNDTC.
- Thông tư của Bộ  trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
- Quyết định của Tổng kiểm toán Nhà nước.
- Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
- Thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với viện trưởng VKSNDTC; giữa Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; giữa các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
- VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.
Thứ hai, văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.
Điều 8 của Luật sửa đổi yêu cầu VBQPPL phải được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng để khi có hiệu lực thì thi hành ngay được, hạn chế việc ban hành quá nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết; đồng thời, bỏ quy định giao Chính phủ ban hành Nghị định để hướng dẫn toàn bộ nội dung của Luật, pháp lệnh một cách nói chung. Các nội dung cần quy định chi tiết được giới hạn cụ thể và cơ quan đã được giao ban hành văn bản quy định chi tiết phải ban hành văn bản, không được phép uỷ quyền tiếp cho cơ quan khác ban hành: “VBQPPL phải được  quy định cụ thể để khi văn bản đó có hiệu lực thì thi hành được ngay; trường hợp trong văn bản có điều, khoản mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì ngay tại điều, khoản đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được uỷ quyền tiếp” (khoản 1 Điều 8). Nhằm tránh tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản được hướng dẫn, Luật yêu cầu “Văn bản quy định chi tiết phải quy định cụ thể, không lặp lại quy định của văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết” (khoản 2). Đồng thời, trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết về nhiều nội dung của một VBQPPL thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung ở nhiều VBQPPL khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết (khoản 4).
Thứ 3, công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành VBQPPL.
Luật sửa đổi quy định trong quá trình soạn thảo, toàn văn bản dự thảo VBQPPL phải được đăng tải trên trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian tiếp cận, chủ động, nghiên cứu tham gia ý kiến. Cơ quan tổ chức lấy ý kiến có trách nhiệm nghiên cứu các ý kiến góp ý để tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản (khoản 6 Điều 33, khoản 1 Điều 35, Điều 62, khoản 2 Điều 67).
Thứ 4, về hiệu lực của VBQPPL.
Luật sửa đổi quy định hiệu lực của VBQPPL phải được quy định ngay trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ban hành để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện (khoản 1 Điều 78), trường hợp VBQPPL quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành nhưng phải được đăng ngay  trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo chậm nhất sau 2 ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.
Khoản 2 Điều 78 quy định: “VBQPPL phải được đăng Công báo, VBQPPL không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp  văn bản có nội dung thuộc bí mật Nhà nước và văn bản ban hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh”.
Về hiệu lực trở về trước của VBQPPL, Điều 79 của Luật sửa đổi quy định: chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, VBQPPL mới được quy định hiệu lực trở về trước; không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.
Thứ 5, về điều khoản thi hành.
- Kinh phí xây dựng VBQPPL do ngân sách Nhà nước cấp (Điều 94).
- Hiệu lực thi hành: Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Luật này thay thế Luật ban hành VBQPPL năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002. Những VBQPPL bao gồm Nghị quyết của Chính phủ; chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết định, chỉ thị của chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; văn bản liên tịch giữa bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với cơ quan trung ương của tổ chức Chính trị - xã hội được ban hành trước khi Luật này có hiệu lực thì vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng VBQPPL khác (Điều 95).
Trên đây là những suy nghĩ bước đầu khi nghiên cứu Luật Ban hành VBQPPL năm 2008. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp nhằm góp phần đưa Luật Ban hành VBQPPL vào phục vụ công tác giảng dạy được tốt hơn trong thời gian tới./.

 

 

Các bài viết khác:
 
Bản quyền thuộc về Trường Chính Trị Nghệ An.
Địa chỉ: 121 - Lê Hồng Phong - TP.Vinh - Nghệ An
Điện thoại: 0383.842552; Fax: 0383.842552; Web: http://www.truongchinhtrina.gov.vn
Email: chinhtrina@gmail.com; admin@tct.nghean.gov.vn; tct@nghean.gov.vn